Thông Tin Berlin

Just another WordPress.com weblog

Còn ai KHÔNG chống nhà nước CHXHCNVN?

 

Còn ai KHÔNG chống nhà nước CHXHCNVN?

Audio

 

 Vũ Thạch

 

Đọc xong bản Kết luận Điều tra dài hơn 6500 chữ của Bộ Công An CSVN về 6 nhà dân chủ bị bắt vào tháng 9/2008, người ta vẫn không hiểu nổi thực sự họ đã làm gì sai trái. Nói cách khác, nếu gọi các dẫn chứng trong tài liệu này là chứng cớ phạm pháp, thì có lẽ chẳng ai đang sống tại Việt Nam mà lại không phạm tội “đã hoặc đang chống lại nhà nước CHXHCNVN”.

Thật vậy, nhóm chữ “chống nhà nước CHXHCNVN” được nhắc đi nhắc lại đến 40 lần trong bản điều tra, như là cách để cố tạo ấn tượng mà Bộ Công An CSVN muốn gán ghép, khi mà bản điều tra không đưa ra được bất cứ lý lẽ hay bằng chứng thuyết phục nào. Toàn bộ sự việc khá đơn giản. Các ông Nguyễn Xuân Nghĩa, Nguyễn Văn Túc, Ngô Quỳnh, Nguyễn Văn Tính, Nguyễn Kim Nhàn và Nguyễn Mạnh Sơn đã bàn tính thực hiện và giúp nhau treo một biểu ngữ tại cầu vượt Lai Cách, thuộc tỉnh Hải Dương, vào ngày 7/9/2008 với nội dung: “Khối 8406. Lạm phát, dân nghèo khó là do chính quyền cộng sản; mất dân chủ, tự do, nhân quyền là do chính quyền cộng sản, yêu cầu đa nguyên, đa đảng”. Bên cạnh đó, cả 6 nhà dân chủ này đều tàng trữ, viết và đăng trên mạng Internet một số những bài phân tích ý nghĩa các biến cố lịch sử cận đại của đất nước, cùng nhiều bài khác phân tích về nguyên nhân các tệ nạn đang lan tràn trong xã hội Việt Nam và tình trạng dâng nhượng dần đất, biển, đảo, v.v. cho Trung Quốc; mà trong đó những người lãnh đạo đảng và nhà nước CSVN vừa chẳng có khả năng tự giải phẫu để chấm dứt tình trạng tham nhũng trong tận xương tủy của họ, vừa phải chịu trách nhiệm chính về việc mất đất mất biển. Toàn bộ sự kiện chỉ có thế! Tại các nước tự do, dân chủ, tất cả những việc vừa kể đều chỉ là các sinh hoạt bình thường của học sinh trung học và đại học, được nhà trường khuyến khích.

Chính vì vậy mà công luận thế giới không thể hiểu nổi:

- Tại sao một đảng luôn tuyên bố họ là lực lượng duy nhất lãnh đạo đất nước Việt Nam, mà lại không nhận trách nhiệm về tình trạng lạm phát, nghèo khó, tụt hậu, băng hoại hiện nay? Các phân tích nguyên nhân những sự tiêu cực đó sai chỗ nào?

- Tại sao một nhà nước sau hơn 30 năm diệt trừ tham nhũng, và đã rất nhiều lần thú nhận tệ trạng này chỉ tăng chứ không giảm; nay lại truy tố những người chỉ ra sự bất lực đó?

- Tại sao người Việt suy nghĩ và kêu gọi mọi người cùng soi rọi lại lịch sử Việt, lại bị coi là hành vi “chống nhà nước CHXHCNVN”?

- Và tại sao ngay cả sự tuyên nhận “Hoàng Sa – Trường Sa của Việt Nam” mà cũng bị kết án là “chống nhà nước CHXHCNVN”? Như vậy, nhà nước đó là… nhà nước Tàu hay Việt?

- v.v…

Quan trọng hơn nữa, nếu xem các bài nhận xét, phê bình, vạch ra sự thật lịch sử của 6 nhà dân chủ nêu trên là phạm pháp, thì Bộ Công An phải bắt thêm rất nhiều thành phần cũng phạm pháp tương tự. Trước hết là tất cả nhân viên các báo, đài, vì đã đăng tải nhiều bài vở công nhận những tệ nạn xã hội, đặc biệt là các vụ tham nhũng. Kế đến là các nhà nghiên cứu sử sách, vì đã dám tìm hiểu, phân tích thêm những sự kiện mà Đảng đã từng đưa ra quan điểm. Sau đó, là bắt các đại biểu quốc hội đã dám phát biểu nêu vấn đề với nhà nước, và bắt luôn những đại biểu khác đã cầm đọc các bài phát biểu đó. Nhưng, có lẽ “phạm pháp nặng nhất” và cần phải bắt nhất, là các lãnh tụ đảng và nhà nước; hễ đọc diễn văn là họ phê phán khuyết điểm của hết cơ quan này đến ban ngành nọ. Vì lời nói của họ có trọng lượng, nên “sự nói xấu nhà nước CHXHCNVN” của họ được loan tải rộng rãi hơn. Và còn nhiều thành phần khác nữa, chẳng hạn dân vỉa hè uống cà phê chửi đổng nhà nước… Tuy những chửi bới đó chưa được hệ thống hoá, nhưng đều vi phạm điều 88 bộ luật hình sự.

Nếu Bộ Công An không bắt các thành phần nêu trên thì cả thế giới đều thấy rõ điều 88 bộ luật hình sự chỉ là cái cớ để nhà nước CSVN dùng luật pháp của chế độ độc tài một cách tuỳ tiện nhằm khủng bố các tiếng nói công chính.

Cũng qua bản kết luận điều tra này, Bộ Công An xác nhận với thế giới câu khẩu hiệu “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” chỉ là… khẩu hiệu xuông. Trong thực tế người dân chẳng được quyền “đề biết, để bàn”, chứ đừng nói đến “để kiểm tra”. Vì ngay cả việc “dân biết” thì người dân cũng đã không được “biết” nhiều điều cần biết; hoặc chỉ được biết theo cách nhà nước muốn. Nếu tự tìm hiểu thêm thì mọi công dân đều có thể bị chụp mũ theo luật 88 tội tàng trữ “tài liệu có nội dung chống nhà nước”, ngay cả khi tài liệu đó do chính mình viết ra… Qua đến khâu “dân bàn” thì càng khó hơn. Nếu dân muốn “bàn” với nhiều người dân khác thì “bàn” bằng cách nào? Khi mà cả 700 tờ báo, đài đều chỉ có một tổng biên tập? Một vài nhà báo vừa mới vào đề, chưa kịp “bàn”, đã bị thu hồi thẻ nhà báo, hay bị “chuyển công tác”. Tóm lại, những phản biện cần thiết đều không có chỗ “để bàn”, còn các lời bàn xuôi thì đã có cả một đội ngũ thợ viết chăm lo. Từ đó mới hiểu tại sao 6 nhà dân chủ đành phải dùng cách treo biểu ngữ và tung tờ rơi.

Chính vì vậy, bản kết luận điều tra này sẽ là một bằng cớ trên giấy trắng mực đen về mức độ vi phạm trắng trợn của lãnh đạo đảng và nhà nước CSVN đối với quyền tự do ngôn luận của người dân Việt Nam.

Sau hết, về tính chuyên môn nghề nghiệp, ai đọc bản kết luận điều tra này đều thấy rõ sự cố tình bôi bẩn ý nghĩa việc làm của 6 nghi can, bằng cách gắn liền từng người, từng hoạt động của họ với các khoản tiền vài trăm ngàn đồng VN, nhằm cố tạo ấn tượng là họ làm chỉ vì tiền. Nhưng chính vì sự gán ghép những món tiền cỏn con này và sự khủng bố của guồng máy công an, mà công luận quốc tế, đặc biệt là giới điều tra cảnh sát, thấy ngay sự khôi hài, hạ cấp, và non nớt của bản điều tra do một ban ngành chuyên môn của CSVN làm ra.

Chắc chắn không chỉ người Việt Nam mà cả thế giới tự do đều sẽ thấy 6 nhà dân chủ – Nguyễn Xuân Nghĩa, Nguyễn Văn Túc, Ngô Quỳnh, Nguyễn Văn Tính, Nguyễn Kim Nhàn và Nguyễn Mạnh Sơn – không chỉ hành xử đúng đắn quyền tự do ngôn luận của mình, mà còn là những người tiên phong trong nhận thức: “chống những người cầm quyền bất xứng không phải là chống lại đất nước”. Ngược lại, chính vì thiết tha với vận mạng đất nước mà họ phải chặn đứng bàn tay của những kẻ cầm quyền bất xứng, đang bán rẻ giang sơn và coi thường dân tộc. Trong những năm tháng trước mặt, chính những kẻ sắp áp đặt các bản án bất công lên những nhà ái quốc này; từng tên một, sẽ phải ra đứng trước tòa của toàn dân về những trò khủng bố người yêu nước hôm nay! 


<< trở về đầu trang >>
free counters 
Advertisements

26/09/2009 Posted by | Diễn đàn | | Leave a comment

40 năm di sản Hồ Chí Minh!

40 năm di sản Hồ Chí Minh!


40 năm di sản Hồ Chí Minh!
Xã luận bán nguyệt san Tự do Ngôn luận số 83 (15-09-2009)
http://dvtnradio.com/audio/40_Nam_Di_San_Ho_Chi_Minh.mp3 

Tại Việt Nam đang có cái gọi là «Đợt tổng kết 40 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh» và hai năm «Cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ» do Ban Tuyên giáo Trung ương đảng CS tổ chức. Để tung hứng, đồng thời để hoàn tất đơn đặt hàng của đảng trong chiến dịch này, nhiều «trí thức xã hội chủ nghĩa» đã ra sức vắt óc bóp trán, vận dụng lý luận, cố trình bày cho thấy «Di chúc Bác Hồ» đã là ngọn đuốc đưa đất nước đi từ thắng lợi quân sự, chính trị, ngoại giao đến thắng lợi xã hội, văn hóa lẫn kinh tế trong hơn 40 năm nay. Ông «tiến sĩ» Vũ Ngọc Am, trên trang mạng của Báo đảng CSVN ngày 09-09-2009, có viết bài «Di chúc Bác Hồ soi đường thắng lợi cuộc cách mạng VN» với 5 chủ điểm lấy từ nội dung di chúc này: 1. Hoàn tất cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước ; 2. Chăm lo công tác xây dựng Đảng. 3- Không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân. 4. Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau. 5- Xây dựng khối đại đoàn kết quốc tế. Bất chấp thực tế hiện thời của đất nước với bao khủng hoảng, tụt hậu và hiểm họa, tác giả vẫn kết luận : «Dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong 40 năm qua thực hiện Di chúc của Chủ tịch HCM, toàn Đảng, toàn dân đã nỗ lực phấn đấu vượt qua bao khó khăn, thách thức giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử… Cùng với thời gian, chúng ta ngày càng nhận rõ Di chúc của Chủ tịch HCM là một tài sản vô cùng quý báu của Đảng và của nhân dân ta, là những chỉ dẫn và là nguồn cổ vũ hết sức to lớn để đất nước ta tiến lên giành thắng lợi thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh xã hội công bằng, dân chủ, văn minh để thoả lòng mong ước của Người».

            Ông «tiến sĩ» Tương Lai thì hơi khác. Qua loạt 4 bài đăng trên trang mạng Tuần Việt Nam từ 26 đến 29-08-2009, vị «giáo sư» này bàn đến 1- tư tưởng HCM; 2- tầm vóc HCM; 3- Phương pháp luận nghiên cứu tư tưởng HCM; và 4- điều mong muốn cuối cùng HCM. Đáng chú ý hơn cả là bài thứ hai, «Tầm vóc HCM». Dù biết tỏng lãnh tụ CS này, cán bộ Đệ tam Quốc tế này chẳng có tư tưởng nào, như chính ông ta khẳng định, chẳng có tác phẩm văn chương, triết học hay khoa học nào, ngoại trừ hai «tác phẩm tuyên truyền» lấy bí danh để tự biến thành thần tượng, còn lại là những diễn từ chính trị nhằm đẩy nhân dân miền Bắc vào cuộc chiến mở rộng Đế quốc CS, trong bài ấy, tác giả Tương Lai vẫn quyết trổ tài tán hươu tán vượn, nói lấy nói được, qua những câu đại loại : «Trước hết và sau cùng, HCM là một con người rất người, một người VN rất VN. Đúng là “dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra HCM” theo đúng nghĩa sâu sắc, đậm đặc và nhất quán một nhân cách HCM, một đường nét văn hóa HCM rất VN. Những gì là lý luận, là khoa học, là uyên bác, là thâm thúy đều có trong HCM cả”, hoặc “Ở trong ứng xử cũng như trong cách viết, cách trả lời nhà báo nước ngoài, cách diễn đạt những mệnh đề, lý luận của HCM có sự tinh tế nhuần nhuyễn của những đường nét minh triết phương Đông và văn hóa phương Tây, vừa dân tộc vừa quốc tế… VN, Phương Đông, Phương Tây, thế giới, thời đại đều có trong cốt cách ứng xử của HCM». Nhân tiện, Tương Lai chêm vào một câu nói ngây ngô, cường điệu lố bịch của Hélène Tourmaire, một nhà văn kiêm nhà báo Pháp: “Hình ảnh HCM đã hoàn chỉnh với sự kết hợp đức khôn ngoan của Phật, lòng bác ái của Chúa, triết học của Mác, thiên tài cách mạng của Lênin và tình cảm của một người chủ gia tộc, tất cả bao bọc trong một dáng dấp rất tự nhiên”. Rồi thì là «HCM không bị đẩy lệch về kinh tế, không rơi vào “kinh tế luận”, cũng không bị đẩy lệch về chính trị để rơi vào cái vũng bùn của quan điểm “chính trị là thống soái” từng gây nên bao thảm họa. HCM càng không lệch về quân sự, để rơi vào sự sùng bái bạo lực, “chính quyền ra đời từ đầu ngọn súng”, đấu tranh giai cấp, “một mất một còn” trong cuộc chiến “ai thắng ai”, cội nguồn của bao tai họa mà di lụy của nó vẫn chưa gột sạch, có lúc lại trở thành cách đánh lạc hướng những đòi hỏi về dân chủ, dân quyền và dân sinh rất thiết thực trong đời sống của người dân». Thậm chí tác giả còn viết : «Đã có một số người vì những lý do nào đó không thể đi theo HCM, trong đó có người rất đau lòng, nuối tiếc vì hoàn cảnh bắt buộc… Cũng có thể nói, chỉ có ai đó đã bỏ HCM, chứ HCM thì không bỏ một ai. Ai đó tự loại trừ chính mình, chứ HCM không loại trừ ai. HCM vẫn thủy chung như nhất với khối đại đoàn kết dân tộc». tộc». tộc». tộc».

            Nhân gian thường nói : Xem quả biết cây. Nhà trí thức thì bảo : Mọi học thuyết đều được thực tế chứng nghiệm. Những gì đã xảy ra trong sự nghiệp của HCM cũng như của đồng đảng hơn nửa thế kỷ nay tại VN cho thấy di chúc và di sản HCM để lại là gì. Cái gọi là «tư tưởng HCM» mà thực chất và chung quy chỉ là chủ nghĩa CS, thì đó “chính là một tà giáo đại bịp nhất trong lịch sử loài người mà những tên lãnh tụ tối cao của chúng dựa vào đó để gây chiến tranh nồi da xáo thịt, để tiến hành âm mưu hiểm độc tiêu diệt mọi lòng tin, mọi nhận thức, mọi tình cảm, mọi tình yêu, kể cả lòng yêu nước của con người!” như lời nhạc sĩ Tô Hải trong «Hồi ký của một thằng hèn». Sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, giải phóng miền Nam như HCM ấp ủ trong Di chúc chỉ là một cuộc «chiến tranh ngu xuẩn» theo lời nhà văn kiêm bộ đội Nam tiến Dương Thu Hương, «là sự hy sinh cực kỳ vô duyên cho một chủ nghĩa không tưởng, cho sự tiếm quyền của một lớp người đang âm mưu làm Vua của cái nước VN khốn khổ này bằng chiêu bài Độc lập, Tự do mà ở các nước người ta đã có từ nửa thế kỷ trước nay rồi vì người ta may mắn thay, đã không có đảng Cộng sản cai trị!” (nhạc sĩ Tô Hải). Việc chăm lo công tác xây dựng Đảng, như HCM huấn thị trong Di chúc, thì theo lời trung tướng Đặng Quốc Bảo trong cuộc phỏng vấn ngày 26-06-2009 : «Ta độc tài cộng sản. Sai lầm lớn nhất là ta dùng chuyên chính vô sản (thu cái độc tài cho một đảng, một nhóm người trong đảng nhân danh là CS rồi cuối cùng là độc tài của một cá nhân). Như nhà nước Liên Xô cũ là nhà nước bành trướng chủ nghĩa nhân danh CS, bành trướng đại đảng. Chỉ gây tai họa, hiểm họa… Khi lên cầm quyền đã thâu tóm quyền lực vào Đảng, rồi chỉ là một tập đoàn, một nhóm người, cuối cùng là quyền lực của một người. Đảng CS độc tài là như vậy». Việc «bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau » (điểm 4 trong Di chúc), thì tướng Đặng Quốc Bảo nay cho thấy kết quả như sau : «Đoàn Thanh niên rất có tội, hàng năm giới thiệu tới 10 vạn thanh niên cơ hội chủ nghĩa vào đảng CS. Trong khi đó ở nước ngoài, học sinh, sinh viên là nòng cốt của quốc gia». Còn về điểm «xây dựng khối đại đoàn kết quốc tế » tức là “tôi mong Đảng ta sẽ ra sức hoạt động, góp phần đắc lực vào việc khôi phục lại khối đoàn kết giữa các Đảng anh em trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, có lý có tình”, thì nay Việt cộng chỉ còn làm mỗi một chuyện: liên minh và thần phục Trung Cộng. Thần phục qua việc dâng đất dâng biển, qua việc trấn áp những ai phản đối Bắc triều (dù trên đường phố, trên biểu ngữ, trên blog, trên y phục), qua việc bỏ mặc ngư dân cho «tàu lạ» tàn sát cướp bóc… Vậy mà việc liên minh thần phục này cũng bị tướng Bảo phê liệt : «Trung Quốc đã, đang thực hiện và nhất định thực hiện các mưu đồ xâm lược VN. Trên thế giới chưa ai mưu sâu như Trung Quốc, chưa ai xảo trá, nham hiểm bằng Trung Quốc. Trung Quốc là xứ sở của ngụy biện và ngộ biện. Hiện nay VN chưa có nhân vật nào chọi được với Trung Quốc… Tai họa sẽ đến với VN, nếu những người lãnh đạo không nhìn rõ, không thấy được Trung Quốc là một đổi thủ nguy hiểm… Trung Quốc tham vô đáy, không khéo ta sẽ từng bước trở thành bộ phận Trung Quốc. Vì nói phải ngả về Trung Quốc để được yên là chủ nghĩa đầu hàng, chủ nghĩa thất bại. Ngả theo Trung Quốc thực chất là bán nước… Ông cha ta kiến võ chưa bao giờ có chủ trương ngả theo Trung Quốc… Trung Quốc thù dai lắm, nên nhớ!” nhớ!”

            Khi khẳng định “HCM không bị đẩy lệch về kinh tế, không rơi vào “kinh tế luận””, ông “giáo sư” Tương Lai có nhớ chăng chính nền kinh tế tập trung, bao cấp kiểu Mác-Lênin mà HCM và đảng CSVN đã mù quáng và sắt máu theo đuổi suốt bao năm trời, từ 1954 đến 1985, với cuộc Cải cách Ruộng đất giết trực tiếp và gián tiếp nửa triệu nông dân, với cuộc Triệt tiêu Tư sản phá vỡ toàn bộ hệ thống kinh tế miền Nam, gây ra thảm họa kiệt quệ tụt hậu, đẩy cả nước đến bờ vực thẳm chết đói? Rồi khi khẳng định HCM “cũng không bị đẩy lệch về chính trị để rơi vào cái vũng bùn của quan điểm “chính trị là thống soái” từng gây nên bao thảm họa, càng không lệch về quân sự, để rơi vào sự sùng bái bạo lực, “chính quyền ra đời từ đầu ngọn súng”, đấu tranh giai cấp, “một mất một còn” trong cuộc chiến “ai thắng ai”, cội nguồn của bao tai họa mà di lụy của nó vẫn chưa gột sạch, có lúc lại trở thành cách đánh lạc hướng những đòi hỏi về dân chủ, dân quyền và dân sinh rất thiết thực trong đời sống của người dân», giáo sư Tương Lai rõ ràng muốn bưng tai bịt mắt trước lịch sử đầy máu và nước mắt mà đảng CS viết ra tại VN kể từ ngày nó được thành lập cho đến tận bây giờ. “Chuyên chính vô sản” (nghĩa là “bạo lực vũ khí và bạo lực hành chánh”) trong việc quản lý xã hội, việc cai trị nhân dân, việc xử lý tôn giáo; “hồng hơn chuyên” trong việc tuyển người vào hệ thống cầm quyền, hệ thống giáo dục; “đi lề bên phải”, “nghe theo đảng, nói theo đài” trong việc hướng dẫn nền truyền thông, đó nghĩa là gì thưa ông “tiến sĩ xã hội chủ nghĩa” ? hĩa” ?

            Nói cho đúng, đảng CSVN đang trung thành thực hiện di huấn của HCM, đang rập khuôn lối sống của tay gian hùng này. Đó là tiếp tục bành trướng chủ nghĩa và chế độ CS dưới sự hướng dẫn của Trung Cộng (thay cho Liên Xô nay đã tiêu tùng), không cần biết Dân tộc, Tổ quốc. Đó là tiếp tục cai trị nhân dân cách sắt máu để giữ ghế quyền lực. Đó là khai thác Đồng bào đến tận mức (bán thanh thiếu nữ ra hải ngoại làm lao nô, tình nô; coi học đường như phương tiện để làm tiền, học sinh như phương tiện để hành dâm; lấy các nhà đối kháng làm con bài, con tin để mặc cả với thiên hạ; dùng lãnh đạo tôn giáo để ru ngủ quần chúng và tô vẽ cho chế độ…). Di sản HCM để lại chính là một đất nước ngạt thở về chính trị, suy đồi về văn hóa, thu hẹp về biên cương, giảm sút về uy tín, bấp bênh về số phận. 

 

            BAN BIÊN TẬP


free counters

Shared via AddThis

18/09/2009 Posted by | Diễn đàn | | Leave a comment

Trấn áp không thể giải quyết được bất đồng

Trấn áp không thể giải quyết được bất đồng 

Nghe Audio

 

Lê Nguyên Hồng

 


Một vài năm gần đây, dồn dập các sự kiện lên tiếng của các nhà đấu tranh dân chủ, của nhiều nhà bất đồng chính kiến đã làm cho không khí bất đồng chính trị của Việt Nam có những sắc thái mới. Biểu hiện chùn tay của nhà cầm quyền CSVN đã lộ rõ trước những tiếng nói đấu tranh mạnh mẽ của nhân dân trong nước, có sự ủng hộ của kiều bào ta ở nước ngoài. Đặc biệt là sự lên tiếng ủng hộ của nhiều tổ chức và chính giới của các quốc gia dân chủ trên thế giới về đề tài dân chủ ở Việt Nam.
Nếu như cách nay khoảng hơn 10 năm trở về trước, chỉ cần một phát biểu của ai đó có ý không đồng tình với quan điểm chính trị của chế độ CS. Thì ngay lập tức họ có thể bị bắt bớ, quy cho cái tội là làm phản động và bỏ tù ngay, thậm chí không cần xét xử, với những mức án nặng nề có thể lên đến hàng chục năm tù.
Ngày nay, kể cả những người công khai chỉ trích sự thối nát của thể chế độc tài CSVN, thậm chí lập ra các tổ chức và đảng phái đối lập với ĐCS, cũng chỉ bị xét xử với những mức án trung bình vài ba năm tù. Những loại “tội” này, nếu trước đây rất có thể sẽ bị xử tù chung thân hoặc tử hình…
Và bộ máy công an của CS đã phải áp dụng cả đến những biện pháp khủng bố giấu mặt, đàn áp giấu mặt – Điều mà trước đây hầu như chưa hề, hoặc đặc biệt ít khi họ cần sử dụng. Tuy nhiên, tình hình đó không phải là sự thể hiện một tiến bộ nhân quyền nào của chế độ độc tài CSVN, mà đó đơn thuần chỉ là những bước lùi của chế độ CS trước sự thật hiển nhiên về quyền tự do ngôn luận, tự do bày tỏ quan điểm chính trị của công dân, rộng hơn thì đó là quyền con người (nhân quyền) đã bị triệt tiêu hàng mấy chục năm qua trên đất nước Việt Nam, dưới chế độ CS.
Viêc nhà cầm quyền CSVN ra tay bắt bớ hàng loạt các nhà đấu tranh dân chủ, các nhà bất đồng chính kiến, thậm chí là cả một vài Blogger tự do cũng đã bị câu lưu. Đã thể hiện sự bế tắc trong mục đích dập tắt các tiếng nói đấu tranh của các nhà dân chủ trong chế độ CS trị tại Việt Nam.
Trước hết, có thể mỗi nhà đấu tranh có những lý do và hoàn cảnh riêng, thúc đẩy họ đi đến quyết định tham gia đấu tranh chống CS, và họ có thể có những động cơ tham gia đấu tranh khác nhau. Nhưng tựu chung lại, họ đều có chung một mong muốn đó là đưa đất nước Việt Nam, dân tộc Việt Nam (đại chúng), thoát khỏi ách cai trị của chế độ độc tài CS trị trên tổ quốc của mình.
Việc lực lượng công an an ninh “bảo vệ chính trị” của nhà cầm quyền CS hiện nay không từ một thủ đoạn nào, bằng mọi giá áp dụng những biện pháp phi pháp nhất để trấn áp những nhà đấu tranh dân chủ. Họ quên rằng, chính họ- Lực lượng công an, có trách nhiệm bảo vệ sự công bằng cho người dân, song song với trách nhiệm bảo vệ tổ quốc. Điều đó chứng minh rằng. ngành công an an ninh chỉ là một công cụ chuyên quyền của ĐCSVN với mục đích duy nhất là bảo vệ cho sự độc tài của CS mà thôi.
Hàng chục năm qua, với hàng trăm công dân Việt Nam vô tội đã bị giam cầm trái phép, bỏ tù trái luật chỉ vì bị quy chung trong một loại “tội” là làm phản động, được diễn giải nào là làm gián điệp, nào là âm mưu lật đổ chính quyền, tuyên truyền chống nhà nước vv…Bởi vậy nhiều nhà đấu tranh đã phải chịu những mức án “không thành có” đến hàng chục năm tù, chưa kể là vài ba năm quản chế (cũng là một hình thức tù khác mà có lẽ chỉ có trong chế độ độc tài CS, chứ không có ở nơi nào khác trên thế giới áp dụng).
Nhưng một kết quả ngược với mục đích “giáo dục” bằng những hình phạt nặng nề của nhà tù, thì hầu hết các tù nhân chính trị sau khi mãn hạn tù, họ vẫn không từ bỏ con đường đấu tranh. Cũng có thể họ sẽ rút kinh nghiệm và chọn những cách đấu tranh khác nhau cho phù hợp với sở trường và năng lực của mình. Nhưng rõ ràng là mục đích trấn áp bằng bạo lực, bằng nhà tù đã không đem lại kết quả như mong muốn cho chế độ CS. Bạo lực trấn áp đôi khi chỉ làm cho những người đối kháng tỏ ra sợ hãi một cách giả vờ, bởi trong lòng họ thì không bao giờ tâm phục những cách hành xử phi pháp của cả một thể chế chính trị cầm quyền.
Ngành công an của nhà cầm quyền CSVN đang rất vất vả trong việc trấn áp các nhà đấu tranh dân chủ. Thử làm một phép tính đơn giản, qua quan sát thực tế của người trong cuộc thì mỗi một nhà đấu tranh trong nước mà công an cho là thành phần nguy hiểm, sẽ có khoảng trung bình là 6 viên công an an ninh thường trực luân phiên theo dõi và canh gác. Vậy nếu có 1000 người đấu tranh như vậy thì phải cần 6000 viên công an, và nếu số lượng người đấu tranh lên đến 10 ngàn, 100 ngàn thì ngành an ninh của CSVN sẽ bị vỡ trận vì không đủ lực lượng để mà “quản lý”. Vậy thì tương lai biện pháp trấn áp của chế độ CS sẽ hoàn toàn bị phá sản là điều đương nhiên!
Vấn đề rõ ràng ở chỗ: Các nhà đấu tranh sau khi ra tù thì lại càng đấu tranh mạnh mẽ hơn trước. Có thể kể ra những ví dụ là những nhà đấu tranh có tên tuổi như linh mục Nguyễn Văn Lý (đang thụ án tù lần thứ ba), linh mục Phan Văn Lợi, linh mục Nguyễn Hữu Giải (cùng thụ án ba năm tù), nhà báo Nguyễn Khắc Toàn (thụ án 4 năm), hay các nhà đấu tranh như bác sỹ Phạm Hồng Sơn, nhà báo Nguyễn Vũ Bình, công dân Hồ Thị Bích Khương vv.., khi ra tù cũng vẫn đang được coi là những nhà đấu tranh tiêu biểu, mạnh mẽ, có chính kiến vững vàng. Riêng một vài trường hợp cá biệt như của luật sư Lê Chí Quang – Một người rất giỏi trong nhận định “hãy cảnh giác với Bắc Triều” từ những năm 2001- 2002. Thì vì lý do sức khỏe (bị bệnh thận nặng từ trước khi đi tù) cho nên hiện nay chưa thấy anh hoạt động công khai trở lại…
Những ngày đầu tháng 9/ 2009 này, gia đình các thành viên đấu tranh dân chủ lại vui mừng đón nhận chiến sỹ đấu tranh Nguyễn Ngọc Quang, một thành viên của Khối 8406 vừa mãn hạn tù ba năm trở về. Ngay sau khi ra tù và còn đang trong thời hạn quản chế hai năm, thế nhưng anh Nguyễn Ngọc Quang đã có những lời phát biểu đanh thép và rất mạnh mẽ trên các đài phát thanh như RFA, VNSR về quan điểm đấu tranh của mình và tuyên bố sẵn sàng chấp nhận tiếp tục bị bắt bớ tù đày. Dù có nguy cơ sẽ tiếp tục bị đàn áp nhưng anh vẫn khẳng định rằng: “Tôi chưa ra khỏi nhà tù khổng lồ hình chữ S” (ý nói đó là nhà tù mang tên Nước CHXHCNVN).

Như vậy, dù có việc xuất hiện những Video nhận tội của các nhà đấu tranh mà truyền hình của nhà cầm quyền CSVN rùm beng phổ biến, như các trường hợp luật sư Lê Công Định, thạc sỹ Nguyễn Tiến Trung, cử nhân Trần Huỳnh Duy Thức, cựu trung tá CS Trần Anh Kim, mà thật giả vẫn còn chưa ngã ngũ. Nhưng có thể khẳng định rằng, trong lòng những nhà đấu tranh nói trên sẽ không tắt lửa đấu tranh. Hay nói cách khác là, họ không bao giờ có thể đứng về cùng phía với chế độ độc tài CS. Dù sắp tới rất có thể họ sẽ bị áp đặt những bản án cực kỳ bất công, nhưng tin rằng sau khi ra tù, họ sẽ tiếp tục con đường tranh đấu chống chế độ độc tài CS.

Tại sao chúng ta lại có thể qủa quyết như trên? Bởi vì một điều rất đơn giản: Quan điểm của nhà cầm quyền từ cấp địa phương ở Việt Nam trong bao năm qua luôn xếp những người từng có tiền án là dạng công dân loại hai (có trong danh sách sổ đen). Hệ lụy của những người có tiền án là gì? Đó là bản thân họ không thể có cơ hội thăng tiến trong xã hội về danh vị, chức vụ hành chính công quyền. Hầu như tất cả những ai từng bị đi tù (dù vì bất cứ tội danh nào) đều bị loại khỏi các cơ quan hành chính của nhà nước. Con cái của những người này khi làm lý lịch để đi học hành, công tác nếu có cha (mẹ) từng là tù nhân (nhất là tù chính trị phản động), thì không mấy cơ quan đơn vị hay nhà trường nào dám tiếp nhận, họ sẽ bị từ chối khéo léo từ những đơn vị cơ quan nhận người ấy.
Bị đẩy sang hẳn thế bắt buộc đối lập với chế độ độc tài CS, do bị kỳ thị và phân biệt trong đối xử xã hội như vậy, không còn con đường nào khác là các cựu tù lại tiếp tục con đường đấu tranh. Động lực của họ mạnh hơn lên, khi luôn xác định mình có chính nghĩa, và con đường duy nhất đúng là con đường tiếp tục đấu tranh để đưa xã hội trong đó có gia đình của mình, đến bến bờ của sự tự do, công bằng, dân chủ đích thực.
Nhìn rộng ra thế giới, tại các nước độc tài đã bị sụp đổ như Ba Lan, Hungaria, Bungaria, Cộng Hòa Czech, Serbia, và đặc biệt tại Chi Lê, trước khi sụp đổ và trong cơn bấn loạn của mình, các chế độ độc tài đều tăng cường bạo lực trấn áp. Tại Chi Lê, Pinochet đã có những lúc điên cuồng cho bắn giết hàng loạt người biểu tình và cao điểm nhất là vào năm 1986 tên độc tài này đã xuống lệnh bắt giam cùng lúc hơn 40 ngàn người vô tội. Nhưng cuối cùng, người dân Chi Lê vẫn vượt qua sự sợ hãi, kiên quyết đấu tranh và hoàn thành việc giải thể thể chế độc tài Pinochet, được cho là vô cùng dã man và tàn bạo trong lịch sử phát triển của đất nước Chi Lê.
Nhìn lại vấn đề tại Việt Nam hôm nay, dù ĐCSVN đang cố tỏ ra cho thế giới thấy những nỗ lực cải thiện dân chủ của mình, và sắp tới sang năm 2010 thì vấn đề về dân chủ sẽ chính thức là đề tài bắt buộc phải đặt lên bàn nghị sự của trung ương ĐCSVN và Quốc Hội của họ (tất nhiên là không phải của dân). Nhưng mặt khác, ĐCSVN lại đang chỉ đạo cho ngành công an ra tay bắt bớ hàng loạt những người yêu nước, những nhà đấu tranh, trong đó kể thêm cả các Blogger tự do. Đó là một sự mâu thuẫn giữa chủ trương trên giấy và hành động thực tế khác xa nhau, đối nghịch nhau của chế độ CS. Chúng ta có thể thấy chế độ độc tài CS ở Việt Nam cũng như tất cả các chế độ độc tài khác từng thống trị tại nhiều quốc gia trên thế giới, nó không bao giờ tự thay đổi theo chiều hướng tích cực có lợi cho nhân dân. Nó chỉ chịu chấp nhận bước lùi khi vấp phải một lực đấu tranh mạnh hơn sức trấn áp của nó mà thôi…
Trong cơn hấp hối và giãy chết của chủ nghĩa độc tài tại nhiều nước trên thế giới, các chế độ độc tài đều tỏ ra hung hãn hơn, tàn bạo hơn. Nhưng đó cũng chính là dấu hiệu đến hồi chế độ ấy đang ở đỉnh cao của sự suy tàn!
Khi một thể chế cầm quyền không còn đủ chính nghĩa để cầm quyền bằng những nguyên tắc căn bản chân chính nữa, nó buộc phải dùng những mánh khóe, thủ đoạn, thậm chí bất chấp cả hệ thống luật pháp mà chính nó đã xây dựng nên. Thì trước hết những cấp thuộc quyền của chế độ đó, sẽ bất mãn với chính những người lãnh đạo của nó. Mất đi sự tôn trọng của cấp dưới, cấp dưới chỉ chấp hành lệnh của cấp trên theo hình thức mang tính đối phó, chính là lúc cái thượng tầng kiến trúc cơ bản của một xã hội đã lung lay đến tận gốc rễ và chờ ngày sụp đổ!


free counters

Shared via AddThis

11/09/2009 Posted by | Diễn đàn | | Leave a comment

Dẹp cái trò «nhận tội» trước khi xử án đi !!!

Dẹp cái trò «nhận tội» trước khi xử án đi !!!

Dẹp cái trò «nhận tội» trước khi xử án đi !!!  

Xã luận bán nguyệt san Tự do Ngôn luận số 82 (01-09-2009)

http://dvtnradio.com/audio/Dep_Cai_Tro_Nhan_Toi_Truoc_Khi_Xu_An_Di.mp3

 

Xin bấm vào đây để
tải xuống BNSTDNL số 82

 

Cộng sản là một chủ nghĩa bất trí, một chế độ bất nhân và là một đảng phái bất chính, nên luôn tìm phương bù trừ mặc cảm tội lỗi hay trấn an lương tâm sai lạc bằng cách huyênh hoang tuyên bố và làm cho ai nấy tin nhận nó là một chủ nghĩa khoa học, một chế độ ưu việt và một đảng phái «của dân, do dân, vì dân». Nó cố gắng đạt mục đích này bằng một nền giáo dục nhồi sọ áp đặt lên mọi thế hệ trẻ, một nền thông tin tuyên truyền áp đặt lên mọi giới nhân dân, với công cụ hỗ trợ là bạo lực hành chánh và bạo lực vũ khí. Đặc biệt và độc đáo hơn hết, Cộng sản dùng chính miệng lưỡi hay ngòi bút của những ai từng phê bình, phản đối hoặc chống lại nó -hay đơn giản chỉ là phàn nàn, rên rỉ về nó- và sau đó đã bị nó bắt, để rồi họ bỗng nhiên đứng lên «tự nhận lầm sai», «xưng thú tội lỗi», «xin được khoan hồng» đang khi còn trong vòng thẩm vấn, giữa tay công an, hoặc thậm chí khi ra trước tòa án xét xử. 

            Lịch sử các đảng CS đã cho ta vô số bằng chứng về điều này. Nổi tiếng nhất là những bằng chứng từ cuộc Đại Thanh trừng thời Staline (1937-1938) mà sau đó đã được nhà văn gốc Hungari tên Arthur Koestler tiểu thuyết hóa trong tác phẩm thời danh nhan đề «Bóng tối giữa trưa» (Darkness at noon, bản tiếng Anh) hay «Số không và vô biên » (Le zéro et l’infini, bản tiếng Pháp). Qua cuộc thanh trừng này, hàng ngàn đảng viên và sĩ quan Liên Xô cao cấp -mà Staline cảm thấy đang và sẽ đe dọa quyền lực tuyệt đối của ông- đã bị tay chân ông dùng vô số thủ thuật gian manh và tàn bạo (( bạo ((như nhà báo Bùi Tín nói trong bài viết mới đây «Ai tự thú vậy ? Ai cần xin ân xá ?») để buộc họ nhận những tội lỗi -mà đa phần họ không hề phạm- ngay trong giai đoạn thẩm vấn hoặc khi ra trước phiên tòa. Lạ một điều là phần lớn đã xin «được xử tử» để đền tội chống lại lãnh tụ và chế độ !

            Một bằng chứng cũng nổi tiếng không kém là cuộc «nhận tội» của Đức Hồng y Joseph Mindszenty (1892-1975), giáo chủ Công giáo nước Hungari. Bị nhà cầm quyền CS bắt năm 1948 vì đã dám lên tiếng phản đối chế độ, tiếp đó phải chịu nhiều cuộc tra tấn khủng khiếp trong nhà tù, cuối cùng vị Hồng y đã «thú nhận» mình có «âm mưu cấu kết với Tây phương, chống lại nhà nước xã hội chủ nghĩa». Văn bản «nhận tội » được nhà cầm quyền Hungari tung ra cho toàn thế giới. Thế nhưng trong phiên tòa tháng 2-1949, ĐHY hoàn toàn phản cung, nói rằng mình đã bị hành hạ dã man bởi công an Cộng sản. Việc này đã khiến Liên Hiệp Quốc ra một nghị quyết và Tòa thánh Vatican (qua Đức Giáo hoàng Piô XII) ra một tông thư mạnh mẽ lên án chế độ.

            Tại Việt Nam, cái trò «thành khẩn nhận tội» này đã được Hồ Chí Minh bày ra từ cuộc Cải cách Ruộng đất, qua vụ Nhân văn Giai phẩm đến vụ Xét lại chống đảng và tới tận ngày nay… Dùng những thủ thuật như đánh vào các nhu cầu cơ bản của sự sống, đánh vào tình cảm và liên hệ gia đình, đánh vào tính khí và xu hướng cá nhân, an ninh và tuyên giáo cộng sản đã làm cho nhiều kẻ không may bị nhắm đến như thành phần cần «giáo dục, răn đe», hoặc bị bắt tù như thành phần cần «cải tạo, trừng trị» phải công khai xưng thú những tội lỗi không có thật hoặc không đúng nghĩa, qua những cuộc «lên đồng tập thể» hay «tự vấn bản thân». Y như nhà báo Bùi Tín đã mô tả : «Cả lớp học lên đồng tập thể, tự “vỗ ngực đôm đốp”, cố lập công về “phản tỉnh”, cố đạt kỷ lục về “thành khẩn”. Không có cũng cố nghĩ ra, tưởng tượng ra, sáng tạo ra tội giật gân nhất, thường là tội “hủ hoá”: tán tỉnh cô này, sờ người cô nọ, rủ thôn nữ ra bãi dâu, bên đụn rạ; có khi còn ly kỳ hóa, phịa ra ý định đầu hàng địch, bỏ ngũ để vào địch hậu, nói xấu lãnh đạo và lãnh tụ…» (bđd).

            Thành ra, khi nghe thấy những ai từng dấn thân vào cuộc đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền, rồi sau đó bị bắt và bị cho «trình làng» với thái độ «thành khẩn sám hối, mong được khoan hồng» trước mặt nhân viên thẩm vấn, chúng ta chớ có vội tin công an và vội lên án các nhà dân chủ. Những trường hợp tiêu biểu trong các năm gần đây là vụ chuyên viên Nguyễn Phong, đảng Thăng Tiến tháng 3-2007, vụ luật sư Lê Công Định tháng 6-2009, vụ bị can Nguyễn Quang Trung ở Tam Tòa tháng 7-2009, vụ thạc sĩ Nguyễn Tiến Trung, doanh nhân Trần Huỳnh Duy Thức và trung tá Trần Anh Kim tháng 08-2009. Đối tượng cần lên án không phải là các nạn nhân mà là các tên đồ tể. Ở đây cần phân biệt :

            1- Bản chất việc «nhận tội». Những gì chúng ta nghe được từ miệng 4 nhà dân chủ trên đài truyền hình CSVN ngày 19-08 chỉ là những hoạt động dân chủ thuần túy, những hành vi đấu tranh bất bạo động. Việc viết bài, lên tiếng, trả lời phỏng vấn, thành lập chính đảng, liên kết với người cùng chung chí hướng trong lẫn ngoài nước, nhằm phê phán sai lầm, tố cáo tội ác của đảng cầm quyền, nhằm công bố sự thật, đòi hỏi công lý, kiến tạo dân chủ cho toàn dân, tất cả đều là những việc rất phù hợp với Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền, với Công ước Liên Hiệp Quốc về các quyền dân sự, chính trị, văn hóa, kinh tế và xã hội mà chính Nhà nước VN đã ký kết tham gia. Các việc đó cũng không đi ngược với điều 69 Hiến pháp VN : «Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ; có quyền được thông tin ; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình». Đối với thế giới văn minh dân chủ, đấy là những hoạt động bình thường, chính đáng, được khuyến khích và biểu dương, vì ngăn chặn được thói lạm quyền và đem lại sự tiến bộ cho xã hội. Nhà cầm quyền CS không thể dựa vào nhận định của các nhà dân chủ ấy (cho rằng các hành vi trên là «vi phạm pháp luật»), để luận tội họ. Một nền pháp chế chân chính, đúng nghĩa chỉ xét chính bản chất các hành vi, căn cứ trên tiêu chuẩn của pháp luật quốc tế là các Công ước về Nhân quyền. Ngoài ra, khi gọi là «phạm pháp» những hành động mà chính mình trước đó đã tin rằng chính đáng, đã ra sức quảng bá, đã ung dung thực thi, đã quyết tâm bảo vệ (và chắc chắn còn xác tín trong tâm lúc «nhận tội»), các nhà dân chủ «tự thú» nói trên đã mặc nhiên lên án chế độ là bất trí, bất nhân, bất chính, độc tài, độc ác và độc hại. Ấy là chưa kể trong ngôn từ, cử chỉ, sắc mặt, họ còn có thể ra một dấu hiệu bí mật nào đó đối với chúng ta. Biết đâu đấy chỉ là khổ nhục kế để còn có thể phục hận sau này, như bao tấm gương tự cổ chí kim, từ đông sang tây ! Rồi biết đâu tất cả đoạn phim chỉ là xảo thuật tinh vi của CS, như giáo sư Nguyễn Chính Kết đã giả thiết trong bài «Tại sao chúng ta lại dễ tin CS đến như vậy ?»

            2- Phương thức việc «nhận tội» : Xin lưu ý rằng trong mọi trường hợp kể trên, các nhà dân chủ “nhận tội” đang còn trong giai đoạn thẩm vấn, giữa bàn tay công an, vốn nổi danh nham hiểm và tàn bạo (như lịch sử các ngành công an CS chứng thực). Khi mới bị bắt, họ không được nghe câu «Anh có quyền im lặng, vì mọi lời anh nói có thể kết án anh» như thấy tại nhiều nền pháp chế văn minh dân chủ. Họ không thể liên lạc gặp mặt gia đình để được an tâm và an ủi. Họ không được quyền thuê luật sư ngay cũng như có luật sư ngồi bên cạnh để cố vấn, để giúp thoát bẫy khi bắt đầu và suốt tiến trình hỏi cung. Họ phải nghe liên tục những lời kết án, quy chụp của nhân viên chấp pháp và phải viết liên tục những bản tường trình, kiểm điểm cho đến khi công an vừa ý, nghĩa là cho đến khi nhận tội. Họ có thể bị buộc phải xem những bài viết, nghe những bài nói trên báo chí công cụ vốn được lập tức huy động đồng loạt để đóng vai trò công tố kết án họ và vai trò hướng dẫn (đúng ra là lèo lái đầu độc) dư luận quần chúng. Ngoài ra, họ có thể bị tra tấn về thể xác như không cho ăn, không cho uống, không cho nằm, không cho đi lại, không cho có ánh sáng hoặc bị ánh sáng quá nhiều (đèn pha cực mạnh chiếu vào gáy, vào mặt). Đặc biệt nhất là không được ngủ vì bị thẩm vấn đêm này sang đêm khác. Các bị can trong nhiều vụ án chính trị những năm gần đây đã tố cáo điều này. Chỉ cần mất ngủ vài đêm là ý chí rất dễ bị đánh gục. Họ còn có thể bị giam chung (hai người) với một tên đầu gấu, nghiện ngập hay nhiễm HIV, để luôn luôn cảm thấy mạng sống bị đe dọa và đâm ra mong muốn kết thúc cuộc thẩm vấn để được an toàn. Nói tóm lại, việc «nhận tội» trong phòng thẩm vấn, trước mặt công an là hoàn toàn phi pháp, vô nghĩa, mà chỉ duy mình chế độ CS mới áp dụng. Không phải nhờ việc ấy mà chế độ CS tăng thêm uy tín và chính nghĩa.

            Muốn biết các bị can có thật sự tự thú và ăn năn thì hãy đợi đến ngày họ ra tòa. Nhưng phiên toà đó phải là một phiên toà công khai, công minh, dân chủ, đúng luật quốc tế. Nghĩa là sau khi đã chịu một tiến trình thẩm vấn trong đó mọi quyền lợi bị can của họ được bảo đảm, thì khi ra toà, mọi quyền lợi của họ xét như một bị cáo phải tiếp tục được đảm bảo: nghĩa là phải có thân nhân, bằng hữu, báo chí quốc tế để họ được an tâm, có luật sư như ý muốn để họ được vững lòng. Họ phải có quyền phát biểu hết ý kiến, chứ không chỉ được trả lời «có-không». Luật sư phải được nói một cách tự do, đầy đủ và phải được quan toà cân nhắc, xem xét, đối chiếu với các ý kiến, lập luận của bên công tố, bên luận tội. Ngoài ra, tòa án phải xét xử theo một bộ luật đúng tinh thần tôn trọng nhân quyền. Nhưng thực tế của «tòa án nhân dân» CS kể từ năm 1954 đến nay làm cho chúng ta hoàn toàn không hy vọng điều ấy.

            Một điều hết sức ý nghĩa là «lời thú tội» của 4 nhà dân chủ được phát ra vào chính ngày kỷ niệm cái gọi là «Cách mạng tháng Tám». Theo các nhà phản tỉnh gần đây như Bùi Tín, Trần Lâm, Tô Hải (phỏng vấn của RFA ngày 25-08-2009), đó không phải là ngày “cướp chính quyền từ tay Pháp và Nhật” như CS nói mà chỉ là “cướp chính quyền Trần Trọng Kim”, một chính quyền hợp pháp, xứng đáng và đầy năng lực, để rồi từ đó cướp hết mọi nhân quyền và dân quyền của người Việt. Đó là ngày đảng CS cướp chính quyền cho riêng mình, chứ không phải cho dân tộc được độc lập và công dân được tự do. Vụ «nhận tội» của 4 nhà dân chủ cùng ngày kỷ niệm là một bằng chứng !

 

BAN BIÊN TẬP


Shared via AddThis

04/09/2009 Posted by | Diễn đàn | | Leave a comment

Ai mới là hèn ???

Ai mới là hèn ???

 

Ai mới là hèn ???
Xã luận bán nguyệt san Tự do Ngôn luận số 81 (15-8-2009)

 

 Audio: http://dvtnradio.com/audio/Ai_Moi_La_Hen.mp3

 

  Xin mời bấm vào đây để xem BNS Tự do Ngôn luận số 81
 

Kể từ tháng 4 năm nay, thiên hạ (nhất là các công dân mạng) xôn xao về cuốn “Hồi ký của một thằng hèn” đầy dũng cảm của nhạc sĩ Tô Hải. Tiếp đến, qua “Tuần kí số 11 ngày 05-07-2009”, cũng lại nhạc sĩ này bàn về cái hèn, trong đó ông phân loại: nào là cái hèn của báo chí, cái hèn của kẻ yếu, cái hèn giả vờ, cái hèn bất đắc dĩ…. Nhưng theo thiển ý của chúng tôi, cái hèn tồi tệ nhất, đáng kinh tởm nhất, đáng khinh bỉ nhất là cái hèn được diễn tả qua thành ngữ “đánh kẻ dưới ngựa, bắn người sau lưng”. Nghĩa là cái hèn của kẻ có quyền lực trong tay (quyền lực chính trị, quyền lực tinh thần, quyền lực vật chất…), nhưng vì những toan tính xấu xa tàn ác, cuồng vọng thống trị độc tài, mà đã làm lắm điều bất nhân thất đức đối với những ai nằm dưới quyền của họ; hoặc vì khiếp nhược trước một quyền lực lớn hơn, họ lại phản ứng -theo lối mặc cảm bù trừ- bằng cách tàn hại những kẻ đang bị họ thống trị. Trên thực thế lịch sử, điều này được thấy rõ ràng trong các chế độ cộng sản.
Sau khi cướp được chính quyền (có lúc bằng gian manh xảo quyệt như tại Nga và Việt Nam), các đảng cộng sản đều che đậy thói đê hèn dưới mỹ từ “bạo lực cách mạng” hay “chuyên chính vô sản”, nghĩa là từ nay họ không thực thi quyền lực bằng lập luận dựa trên chân lý, bằng thuyết phục dựa trên công lý và thành quả, theo như lương tri và lương tâm thông thường của con người, mà bằng đàn áp với bạo lực hành chánh hay bạo lực vũ khí. Họ trị nước thay vì bằng cơ cấu tam quyền phân lập thì lại bằng tam quyền phân công, biến Quốc hội -tạo ra sau những cuộc bầu cử đầy gian trá và áp bức- thành lũ gia nô chỉ biết đưa ra hoặc sửa đổi các luật lệ theo ý đảng, có lợi cho đảng; biến Pháp viện, tòa án -tạo ra từ những kẻ thông thạo luật rừng, luật đảng hơn là luật pháp, luật lương tâm- thành lũ đười ươi (từ của Lm Nguyễn Văn Lý) chỉ biết xét xử và tuyên phạt với các “bản án bỏ túi” nhận từ đảng bộ hay từ chính trị bộ; biến cả hệ thống Chính quyền -tạo ra từ các đảng viên hồng hơn chuyên, giỏi hoạnh họe tham nhũng thay vì phục vụ- thành đám tay sai nô bộc chỉ biết mù quáng thực thi mệnh lệnh của đảng ủy địa phương hay trung ương. Đảng CS còn hèn đến độ biến quyền lực công luận (báo chí) thành những cái loa tuyên truyền ầm ĩ và lếu láo, biến quyền lực bảo an (quân đội và cảnh sát) thành những công cụ mù quáng và tàn bạo, biến quyền lực tinh thần (giới trí thức, giới tu sĩ quốc doanh) thành những con hến ngậm miệng hay những con vẹt lải nhải bài tụng ca. Trong hoàn cảnh ấy, toàn thể nhân dân chỉ còn là kẻ dưới ngựa cho đảng đánh xuống, chỉ còn là người đưa lưng cho đảng bắn vào.
Bên cạnh cái hèn bằng sử dụng bạo lực nói trên, cộng đảng VN còn tỏ ra hèn bằng thái độ khiếp nhược trước các cộng đảng cầm quyền lớn hơn mạnh hơn, như Liên xô hay Trung quốc chẳng hạn. Hồ Chí Minh, dù biết cuộc cải cách ruộng đất ở Liên xô và Trung quốc đầy huyết lệ và thất bại, nhưng vì khiếp sợ Stalin và Mao, đã vẫn xin chỉ thị từ hai tên đồ tể này (xem lá thư gởi Stalin ngày 31-10-1952). Cũng năm 1952, vì hèn trước các cố vấn và chuyên viên cải cách của Trung cộng, Hồ Chí Minh đã để mặc cho tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên kết án tử hình bà Nguyễn Thị Năm, một ân nhân của đảng, người đã từng che chở, nuôi ăn chẳng những chính ông mà hầu hết các nhà lãnh đạo đảng. Cũng vì hèn mà Hồ Chí Minh đã ra lệnh cho Phạm Văn Đồng ký công hàm bán nước ngày 14-9-1958, lấy của Việt Nam Cộng Hòa hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa để dâng trên giấy cho ông anh vĩ đại, khiến ông anh này cứ mãi dựa vào đó để khẳng định chủ quyền. Cái hèn này đã lôi theo những cái hèn khác đối với Trung quốc, biểu lộ qua Hiệp định biên giới Việt-Trung ngày 30-12-1999 và Hiệp định lãnh hải Việt-Trung ngày 25-12-2000, dâng ngon ơ cho Tàu cộng hàng chục ngàn km2 đất và biển của Tiên tổ, qua Tuyên bố Việt-Trung tháng 12-2001 và tháng 06-2008, rồi qua Quyết định số 167 ngày 01-11-2007 cho phép TQ thực hiện dự án bauxite đầy nguy hiểm về văn hóa, sinh thái và an ninh trên vùng đất Tây Nguyên. Mới đây nhất, cái hèn của CSVN biểu lộ qua việc ký kết dâng Ải Nam quan và nhiều phần đất ở biên giới phía Bắc ngày 23-02-2009 với rất nhiều màu sắc và nghi lễ rộn ràng. Nhưng “vui thế bao nhiêu nhục bấy nhiêu”! Và với mặc cảm bù trừ, CSVN quay lại cướp bóc đất đai của nhân dân và các tôn giáo cũng từ bấy nhiêu năm, hành hạ bỏ tù những ai đòi lại tài sản mình đã sở hữu chính đáng, dẹp tan các cuộc biểu tình của sinh viên, trí thức, dân oan, nhà dân chủ phản đối Trung quốc xâm lược.
Cái hèn vì khiếp sợ trước một quyền lực lớn hơn khác là quyền lực tinh thần (nhưng rồi phản ứng lại bằng bạo lực vũ khí và bạo lực hành chánh) đã biểu lộ lần đầu tiên -xem ra thế- qua vụ luật sư Nguyễn Mạnh Tường, một trí thức xuất chúng đương thời của Việt Nam. Sau khi mời luật sư cho ý kiến về cuộc Cải cách Ruộng đất vừa hạ màn ngày 20-07-1956 (với bài “Qua những sai lầm trong Cải cách Ruộng đất, xây dựng quan điểm lãnh đạo” đọc ngày 30-10-1956), Hồ Chí Minh đã hèn mạt báo thù bằng cách đày đọa cho đến chết nhân tài đặc biệt, nhân sĩ ưu tú ấy. Tiếp theo đó là một trò hèn khác nhắm vào các trí thức văn nghệ sĩ có khát vọng tự do dân chủ và đầu óc suy tư độc lập vốn đã lên tiếng phê bình về những sai lầm tàn ác trong CCRĐ cũng như về chính sách khống chế kiểm soát thành phần trí tuệ của Dân tộc. Trò hèn của những tên đa phần thấp kém về tri thức và nhân cách này (trong đảng CS) đã gây ra thảm kịch mang “vụ án Nhân Văn-Giai Phẩm”! Vụ Mậu Thân với việc phản bội cam kết hưu chiến, giết hại dã man dân lành, loại trừ đồng đội trong “Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam” cũng là một trò hèn mạt của CS vốn còn ghi đậm nét trong lịch sử dân tộc.
Thời gian gần đây, kể từ thế kỷ XXI, với việc nổi dậy của nhân dân đủ mọi tầng lớp, việc cất tiếng của tôn giáo đủ mọi giáo hội, việc đứng lên của các nhà đối kháng đủ mọi thành phần, việc lấn lướt ngày càng ngang ngược của ngoại thù phương Bắc, cái hèn của đảng CSVN càng bộc lộ một cách chói chang. Bằng chứng là những cuộc đàn áp dã man tại Thái Hà (Hà Nội), Tam Tòa (Quảng Bình), Bát Nhã (Lâm Đồng) với sự cấu kết giữa công an với bọn côn đồ (chưa hẳn là xã hội đen) mang tên “quần chúng tự phát” và sự đổ lỗi đê tiện cho đám công cụ tay sai này. Bằng chứng là những cuộc bắt bớ tùy tiện, xét xử vô luật, kết án với tội danh vu vơ những ai tranh đấu cho công lý và tự do. Điển hình là những bức ảnh quanh và trong phòng xử án các nhà dân chủ, mà đặc biệt là hình linh mục Lý bị bịt miệng và trói tay trong phiên tòa ô nhục tháng 3-2007 tại Huế. Để bảo đảm sự chiến thắng của đảng trong những phiên tòa này, CS đã đê hèn tước mất mọi quyền cơ bản của các bị can: không cho họ có luật sư cố vấn khi bắt đầu tiến trình thẩm vấn, để công an chấp pháp mặc sức khủng bố tinh thần và đưa vào tròng bẫy, không cho bị can được quyền thuê mướn những luật sư vừa ý, hoặc có cho thì chẳng để các luật sư đủ thì giờ gặp gỡ bị can, đủ điều kiện thu thập tài liệu, không cho các luật sư được trình bày cách tự do và đầy đủ bài bào chữa, hoặc có cho thì công tố và quan tòa vẫn chẳng thèm nghe, không cho thân nhân bạn hữu hay báo chí quốc tế tham dự phiên tòa, vì muốn tước mất sự trợ lực tinh thần mà bị can có quyền được hưởng (báo chí nếu có mặt thì bị nhốt trong phòng kín, theo dõi mọi chuyện qua màn ảnh truyền hình). Ở đây xin mở một dấu ngoặc để nói về cái “hèn” của nhiều bị can vốn đã nhận tội và xin khoan hồng khi còn đang giai đoạn thẩm vấn, kể từ vụ Trộm cổ vật ở Bắc Giang năm 2006, vụ Nguyễn Phong+Nguyễn Bình Thành năm 2007, đến vụ Lê Công Định tháng 6-2009, và gần đây nhất là vụ Tam Tòa với bị can Nguyễn Quang Trung tháng 7-2009. Nhiều người đã vội phê phán họ “đầu hàng quá nhanh” và kết án họ “tỏ ra quá hèn”. Xin lưu ý rằng lúc “nhận tội”, họ đang ở trong giai đoạn thẩm vấn, giữa bàn tay công an, vốn nổi danh sắt máu và nham hiểm, đang bị khủng bố và tra tấn về tinh thần (có khi về thể xác), như bị phong tỏa khỏi mọi liên hệ, nhất là thân nhân gia đình và luật sư cố vấn, như bị thẩm vấn đêm khuya, trong tình trạng mất ngủ khiến ý chí kiệt quệ, như bị buộc xem những bài báo công cụ mạt sát lên án họ… Đó là chưa kể công an và báo chí chẳng bao giờ được đóng vai công tố hay thẩm phán. Thành ra không thể và không nên kết án các bị can nói trên là “hèn”.
Trở lại với cái hèn của CSVN. Cái hèn này thời gian gần đây bộc lộ rõ nét qua vụ Trung cộng ngày càng ngang ngược trên biển Đông và quanh Hoàng Trường Sa quần đảo, ngày càng cấm cản, bắt bớ, phá hoại, tàn sát dân Việt đánh cá trên vùng biển nước Việt. Trước những thảm cảnh của dân lành, của đồng bào, lực lượng hải quân thì trơ mắt đứng nhìn, lãnh đạo cộng sản thì ngậm miệng làm thinh, thậm chí còn xun xoe nịnh bợ hay cung cúc van nài đại ca nước lớn, phát ngôn nhân bộ Ngoại giao thì vẫn cứ một điệp khúc nhàm chán: Việt Nam có đầy đủ bằng chứng về chủ quyền trên vùng đảo…., báo chí công cụ thì hoặc câm như hến, hoặc chỉ nói vu vơ là “tàu lạ”. Thật tự cổ chí kim và từ đông sang tây, chưa có một nhà cầm quyền nào hèn mạt đến thế!!
Cũng phải nói đến cái hèn của những kẻ đang nắm quyền lực tinh thần và đang có quần chúng sau lưng, bên dưới. Trước nguy cơ của đất nước vì mất nhiều vùng ở biên giới, ngoài hải phận, trên Tây Nguyên, trước thảm nạn chức sắc lẫn giáo đồ bị sách nhiễu, hành hung, điển hình là trong vụ Thái Hà và nhất là vụ Tam Tòa và vụ Bát Nhã gần đây, nhiều lãnh đạo tôn giáo cao cấp vẫn cứ câm như hến trước cường lực chính trị, vì sợ mất đi những ân huệ Nhà nước ban cho, đồng thời lại tìm cách bịt miệng bề dưới của mình, làm tê liệt sức mạnh tiềm tàng vô song của Giáo hội (x. bài “
Tam Tòa? Chuyện nhỏ!” của Lm Nguyễn Ngọc Tỉnh và bài “Niềm đau vô tận” của Nguyên Chơn).
Như vậy, cái hèn đích thực tại Việt Nam hiện nằm nơi nhiều kẻ đang nắm quyền lực chính trị và quyền lực tinh thần, chứ không phải nằm nơi đám dân hèn đâu!!!

BAN BIÊN TẬP

Shared via AddThis

21/08/2009 Posted by | Diễn đàn | | Leave a comment

Những thước phim ấy – thật hay không thật?

Những thước phim ấy – thật hay không thật?

 

Những thước phim ấy – thật hay không thật? 

 

http://dvtnradio.com/audio/Nhung_Thuoc_Phim_Ay_That_Hay_Khong_That.mp3


 Bùi Tín
 


 

Bộ phim “Sự thật về Hồ Chí Minh”, dài gần 2 tiếng, gồm 12 phần, đang được phổ biến rộng ở ngoài nước, bắt đầu được phổ biến vào trong nước. Ở trong nước nhiều người tìm xem và nghe được trên các mạng điện tử.
Bản dịch tiếng Anh và tiếng Pháp đang được thực hiện.
Lập tức, đầu tháng 8 này, từ trong nước Ban tuyên giáo trung ương đảng giật mình, cho ra trên mạng điện tử Đảng cộng sản-on line bài “Những thước phim trái sự thật, trái đạo lý”, dấu mặt sau cái bí danh hơi bị mỉa mai là “Chính Nghĩa”(!), la toáng lên rằng bộ phim này là “dối trá, vu cáo và xuyên tạc”, mà không đưa ra một bằng chứng phản biện nào! Thật tội nghiệp cho một chuyên viên chuyên nghề nói dối.
“Chính Nghĩa” kể tên tôi trong số người tham gia bộ phim, nói rằng tôi nói dối, vu cáo ông Hồ. Nay tôi xin kể, không phải để cãi với ông ta – thà nói chuyện với cái đầu gối – mà để các bạn muốn đi tìm sự thật về ông Hồ, biết rõ thêm về bộ phim này.
Khi Linh mục Nguyễn Hữu Lễ và ông Trần Quốc Bảo đến yêu cầu tôi tham gia bộ phim, tôi có góp ý trước rằng :
         – nên chỉ nói lên sự thật, chỉ sự thật mà thôi. Sự thật y như nó có, không thêm không bớt, không tô vẽ thêm, không bôi đen thêm;
         – các sự việc cần có bằng chứng hiển nhiên, có chứng cớ rõ ràng, có nhân chứng, vật chứng làm bằng, để chứng minh một cách khoa học, có sức thuyết phục cao. Tất cả giá trị của phim là ở đó;
        – trong thuyết minh nên gọn, gợi ý cho người xem tự phán xét tự kết luận.
Tránh đao to búa lớn; tránh dùng từ ngữ kiểu chửi bới thô tục, sẽ phản tác dụng với bà con trong nước, vì họ bị nhiễm tệ sùng bái “lãnh tụ” từ khi sinh ra, cần gỡ bỏ dần dần mà vững chắc. Gọi ông Hồ Chí Minh là ông Hồ, là chủ tịch Hồ Chí Minh cũng không sao, không nên gọi thằng này, tên nọ, con súc vật này khác …, sẽ làm giảm giá trị thuyết phục của bộ phim đối với đông đảo đồng bào ta.
Tôi rất mừng về giá trị thuyết phục của bộ phim. Cho nên bài báo “Những thước phim trái sự thật, trái đạo lý” không thể đưa ra một dẫn chứng nào.
Hãy so sánh với bản tiểu sử chính thức của ông Hồ được dạy trong các trường học, sẽ lòi ra không biết bao nhiêu điều trái sự thật bị lộ tẩy hết.
Ngày sinh 19-5-1890 là không thật. Ngày chết 3-9-1969 cũng không thật, được sửa là 2-9-1969. Cụ tri huyện Bình Khê Nguyễn Sinh Huy không hề treo ấn từ quan mà bị kỷ luật nặng do ngộ sát dân khi lên cơn say rượu. Anh Nguyễn Tất Thành lên đường xuất dương không phải để cứu nước mà chủ yếu để tìm hướng lập thân cho bản thân mình và cứu cha đang thất nghiệp. Đơn anh xin vào học Trường thuộc địa Pháp đào tạo viên chức phục vụ chính phủ Pháp và đơn anh gửi viên Khâm sứ Trung kỳ xin cho cụ Nguyễn Sinh Huy trở lại làm việc cho Pháp, dù ở chức thấp, là những bằng chứng rành rành, hiện vẫn còn lưu giữ ở Pháp.
Cái chuyện ông Hồ được UNESCO công nhận là “anh hùng dân tộc và danh nhân văn hoá thế giới”(!) chỉ là một chuyện “không đâu vào đâu”, chuyện “ngộ nhận”, chuyện “vơ vào rất vô duyên”, lần này do chính những người và tài liệu của UNESCO cải chính và lật tẩy. Một sự cố tình xuyên tạc, bóp méo, ăn gian như thế mà đến nay – năm 2009 – vẫn cứ ngang nhiên tồn tại trong bản tiểu sử chính thức được rao giảng, trong các văn kiện nhà nước, trong sách giáo khoa, trong bảo tàng lịch sử và bảo tàng Hồ Chí Minh ở Hànội một cách trơ trẽn!. Cả sự thật và đạo lý đều bị chà đạp. Lãnh đạo đảng không cải chính, cơ quan nhà nước không cải chính, chỉ tổ trưng ra trước công luận, trước đồng bào trong nước và nhân dân thế giới bộ mặt gian dối, đạo đức giả. Đạo đức Hồ Chí Minh mà họ rêu rao dạy cho họ làm chuyện gian dối ma quái đến thế ư ?! 
Về cái truyền thuyết dạy cho thiếu nhi và tuổi trẻ rằng ông Hồ bôn ba khắp nơi từ tuổi trẻ đến tuổi già, không hề nghĩ đến chuyện yêu đương, không lập gia đình, không vợ con, một truyền thuyết bị rất nhiều người hoài nghi, thì nay bộ phim phơi bày hàng loạt sự thật từng bị che dấu kỹ. Nhà báo Mỹ Quinn Judge đã tìm được tài liệu chính thức tại London (Anh) và Moscow (Nga) kể tỷ mỷ về mối quan hệ vợ chồng của Nguyễn Tất Thành và Nguyễn Thị Minh Khai ở Quảng châu cũng như ở Moscow, bản khai với Quốc tế CS, ở chung một phòng chỉ có một giường; vậy thì các giáo sư dỏm ở cái học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh có còn giữ sự giải thích là lúc ấy “Bác phải giả bộ là quan hệ vợ chồng để hoạt động bí mật ” (!); giữ bí mật với ai? với Quốc tế CS à? kiểu cãi chày cãi cối!
Còn bà vợ Tàu Tăng Tuyết Minh thì rõ ràng quá, cả ngày cưới, tiệc cưới, người dự, địa điểm cưới, tài liệu còn lưu trữ. Cũng là trái sự thật à?
Lại con cô vợ trẻ Nông Thị Xuân và cậu con trai Nguyễn Tất Trung, phải mang tên Vũ Trung, hiện sống sờ sờ với cô vợ Lưu Thị Duyên trong ngõ Trung tả phố Khâm Thiên Hànội. Có vợ, có con, đâu phải là tội, nhưng cái tội là nói dối cả làng nước, cả thế giới để tự tô vẽ mình. Tội lớn nữa là bỏ mặc cô vợ chết thảm thương, bỏ mặc con trai không công nhận, không đoái hoài…
Bộ chính trị hiện tại có dám làm cái việc hợp đạo lý và pháp lý là công khai công nhận anh Vũ Trung là con trai ông Hồ, trả lại họ tên anh là Nguyễn Tất Trung, để anh về thăm Kim Liên, chính thức nhận ra quê hương và họ hàng thân thích. Bộ chính trị CS cũng có trách nhiệm chỉ ra mộ của cô Nông Thị Xuân bị dấu kỹ để cho con trai, con dâu và cháu nội đến thắp hương, viếng oan hồn người đã khuất. 
Đó là những việc làm cần thiết, hợp sự thật, hợp đạo lý truyền thống Việt nam, hợp cả Chính nghĩa, sau khi bộ phim được phổ biến rộng, cần trả lời như thế với người viết bài “Những thước phim trái sự thật, trái đạo lý” ký tên “Chính nghĩa” (!) trên báo mạng của đảng Cộng sản  đầu tháng 8 vừa qua.

Bùi Tín
Paris  8/2009.

Shared via AddThis

15/08/2009 Posted by | Diễn đàn | | Leave a comment

Bát Nhã và Tam Toà

Bát Nhã và Tam Toà

Bát Nhã và Tam Toà

 

http://dvtnradio.com/audio/Bat_Nha_Va_Tam_Toa.mp3

Ngô Nhân Dụng

Hai biến cố liên can đến tôn giáo gần đây, vụ Tu viện Bát Nhã và vụ Nhà thờ Tam Tòa, có những điểm giống nhau và khác nhau, nhưng cả hai cùng do một nguyên nhân, là chế độ độc tài toàn trị của đảng Cộng Sản Việt Nam. Ðảng này đã tước đoạt những quyền tự do căn bản của người dân bình thường, và họ có thái độc thù ghét các tôn giáo, cho nên họ đàn áp từ tăng ni Phật tử đến các tín hữu Công Giáo.
 




Bát Nhã và Tam Tòa cho thấy cảnh những người dân thực hành tín ngưỡng của họ và bị ngăn cản và đàn áp. Trong cả hai vụ, đảng Cộng Sản đều trốn trách nhiệm không dám chính thức ra mặt mà thả cho đám tay sai cấp dưới làm bậy. Trong cả hai trường hợp, công an Cộng Sản đều thuê tay sai đóng vai thường dân làm những hành động côn đồ. Cả hai vụ đang gây tiếng vang trong dư luận quốc tế và đồng bào trong nước đang chú ý theo dõi, cuối cùng đảng Cộng Sản không thể trốn trách nhiệm được nữa. Nhưng cả hai biến cố này cho thấy sức mạnh của tín ngưỡng tâm linh được biểu hiện, khiến mọi người Việt Nam phải xúc động. Họ sẽ nhìn thấy một chế độ trống rỗng trong tư tưởng và lúng túng trong việc làm, đang tiến gần đến ngày tàn tạ.
Những sự kiện xẩy ra ở Bát Nhã và Tam Tòa có những điểm khác nhau. Bát Nhã là một vụ lật lọng, lường đảo của chế độ Cộng Sản theo lệnh của ngoại bang; còn Tam Tòa là một vụ cướp đoạt quyền sở hữu nhằm mục đích cản trở sinh hoạt tôn giáo.
Tu viện Bát Nhã trước sau vẫn thuộc quyền sở hữu của Thượng Tọa Ðức Nghi, một người trong Giáo Hội Phật Giáo được nhà nước Cộng Sản kiểm soát. Ngay cả những khu đất mới mua và các cơ sở mới xây cất tại đó, do các Phật tử Làng Mai ở khắp thế giới cúng trị giá một triệu Mỹ kim, cũng vẫn thuộc quyền sở hữu của vị trụ trì cũ chùa này. Ông sư Ðức Nghi đã sang Làng Mai bên Pháp xin theo học pháp môn mới nhiều lần, và xin hiến cúng Bát Nhã, một trong nhiều ngôi chùa của ông, nhưng Hòa Thượng Thích Nhất Hạnh đã không nhận mà chỉ hứa gửi các tăng ni về giúp hướng dẫn việc tu tập theo quy củ Làng Mai giúp cho tu viện thêm sinh khí mới.

Sau khi các tăng, ni Làng Mai về Bát Nhã được bốn năm, họ đã quy tụ được gần 400 tăng ni trẻ mới; ngoài ra còn thu hút hàng ngàn Phật tử từ nhiều nơi trong nước về tu tập những cuối tuần. Phương pháp tu học mới thu hút giới trẻ ở Việt Nam và khắp thế giới vì cho họ thấy có cách thực hành đạo Phật vào cuộc sống của chính họ trong thời đại này. Sự có mặt của các giáo thọ Làng Mai giúp các tăng ni mới xuất gia và Phật tử thấy lối sống theo thanh quy trong tự viện và cách thực hành đạo Phật trong đời sống tại gia đem lại an lạc thực sự. Trong Tháng Bẩy 2009, tại chùa Hoằng Pháp ở Hóc Môn, hơn 6,000 Phật tử trẻ tuổi đã tụ họp tĩnh tu, một hoạt động theo phương pháp của Làng Mai, vì hiện nay người ta không được phép đến Bát Nhã tu tập nữa. Hòa Thượng Nhất Hạnh đã thuyết giảng ở chùa này trong hai lần về nước. Pháp môn mới từ Tu Viện Bát Nhã lan ra có thể gây ảnh hưởng rộng lớn, là một lý do khiến chính quyền Cộng Sản lo sợ họ mất khả năng kiểm soát. Nhưng áp lực của Cộng Sản Trung Quốc là nguyên nhân trực tiếp. Cộng Sản Trung Quốc đã bất bình khi Hòa Thượng Nhất Hạnh ủng hộ nhân dân Tây Tạng và còn đề nghị Cộng Sản Việt Nam mời Ðức Ðạt Lai Lạt Ma tới Việt Nam dự lễ Phật Ðản năm ngoái trong một chương trình được Liên Hiệp Quốc bảo trợ. Cộng Sản Trung Quốc đã yêu cầu Hà Nội cấm Hòa Thượng Nhất Hạnh về nước dự lễ, nhưng chính quyền Hà Nội không làm theo vì uy tín quốc tế của nhà sư 82 tuổi này quá lớn.
Sau Lễ Vesak năm ngoái, các tăng ni giáo thọ của Làng Mai bắt đầu bị quấy nhiễu, ngăn cản, và sau cùng tất cả đã phải ra khỏi Việt Nam. Ðối với 379 tu sĩ còn lại, Cộng Sản ra lệnh cho Thượng Tọa Ðức Nghi đuổi họ ra khỏi chùa Bát Nhã, dùng luật lệ về hộ khẩu để cấm những tu sĩ trẻ này tiếp tục đường tu học. Ðiều đảng Cộng Sản Việt Nam không ngờ được là hạt giống đạo được gieo vào tâm thức của 400 tăng ni mới ở Bát Nhã đã biến họ thành những con người không sợ hãi và không phản ứng bạo động trước những hành động tàn ác. Nhiều người bị cha mẹ gọi về vì áp lực của công an cũng đã quay trở lại Bát Nhã để sống chết với đồng đạo. Những người trẻ tuổi này, từng sống dưới chế độ Cộng Sản từ bé đến lớn, sau mấy năm tu tập theo đạo Phật đã tự chuyển hóa để tạo được tâm an nhiên tự tại trước mọi khiêu khích, lăng mạ, đe dọa, và đánh đập. Ðảng Cộng Sản Việt Nam không thể trục xuất những tăng ni trẻ này ra khỏi Việt Nam, mà cũng thể đánh đập mãi những người xuất gia ngồi lặng lẽ niệm Phật trong khi bị cắt điện, cắt nước, bị phong toả cả thức ăn. Ðồng bào trong vùng, cả các tín hữu Công Giáo láng giềng, đã bầy tỏ tình đoàn kết với các tăng ni bị quấy phá và đàn áp, hậu quả của vụ Bát Nhã có thể lan ra rộng mặc dù báo chí trong nước bị cấm loan tin. Người dân Việt Nam sẽ tự hỏi một chế độ, một đảng chính trị và một chính quyền như thế nào mà lại có những hành động kém văn minh đối với những người chỉ chú tâm hành đạo như vậy? Ðó cũng là câu hỏi đặt ra khi chúng ta chứng kiến vụ Tam Tòa.
Ngôi nhà thờ ở Tam Tòa đã dựng lên từ năm 1887, là nhà thờ chính của cả Giáo Phận Vinh. Từ khi ngôi nhà thờ cổ bị máy bay Mỹ phá năm 1968, giáo phận vẫn chưa có một giáo đường chính, mặc dù hiện nay lên tới nửa triệu tín đồ. Lịch sử giáo phận này đã bắt đầu từ năm 1631 khi những giáo dân đầu tiên đã tụ thành một xóm đạo. Từ khi chiến tranh chấm dứt, các giáo dân đã đòi được xây dựng nhà thờ chính tòa tại địa điểm cũ nhưng bị chính quyền Cộng Sản từ chối, lấy cớ muốn giữ ngôi tháp chuông bị phá làm “chứng tích tội ác chiến tranh của đế quốc Mỹ.” Không thấy chính quyền Cộng Sản trưng ra một bằng cớ nào là khu đất nhà thờ đã bị trưng dụng làm của công. Lối cai trị của đảng Cộng Sản vẫn như vậy, lời nói và mệnh lệnh của cán bộ có thể thay cho pháp luật. Cho nên suốt 40 năm qua các giáo dân Vinh đã không có một nhà thờ xứng đáng với lịch sử sự phát triển của cộng đồng tín hữu. Suốt 34 năm qua kể từ khi hòa bình, giáo dân Vinh đã phải nhịn nhục, vì “trước kia lơ mơ là bị dẹp liền,” đúng như lời của Linh Mục Huỳnh Công Minh, một người đã từng được gọi là “linh mục quốc doanh” ở Sài Gòn. Con sâu xéo lắm cũng quằn, giữa Tháng Bẩy người dân Công Giáo ở Vinh đã tự động kéo đến nền đất nhà thờ cũ dựng lên một ngôi nhà tạm dùng làm nơi thờ phượng. Khu đất đó vẫn thuộc chủ quyền của Giáo Phận Vinh, mới được tái lập từ năm 2006. Các giáo dân dựng ngôi nhà trên khu đất chung của họ. Nhưng chính quyền Cộng Sản đã ra tay đàn áp để cấm cản. Khi quân Trung Quốc cướp chiếm những hòn đảo thuộc hải phận nước Việt Nam thì Cộng Sản không dám dám phản đối bằng hành động mà lúc nào cũng một mực nhún nhường xin bàn thảo, dù biết cứ nói hão như thế thì chẳng bao giờ đi đến đâu. Nhưng khi người dân dựng lại nhà trên khu đất thuộc quyền sở hữu của giáo phận thì cũng chính quyền Cộng Sản đó lại thẳng tay đánh đập để ngăn cản! Và tại nhà thờ Tam Tòa họ cũng dùng một thủ đoạn giống như ở tu viện Bát Nhã: kéo một đám côn đồ tới chửi bới và hành hung những tín đồ một tôn giáo đang làm bổn phận với tín ngưỡng của họ! Thủ đoạn ném đá giấu tay đó còn được công an Cộng Sản bồi thêm bằng việc bắt giữ giáo dân, đánh các linh mục rồi ném người qua cửa sổ nhà thương. Ðối với những người có tín ngưỡng tâm linh thâm sâu bền chặt, các thủ đoạn đó càng tạo phản ứng ngược lại, người dân càng vững tin hơn. Chỉ nhìn vào cách đảng Cộng Sản sử dụng những phương pháp đê hèn và vô hiệu đó cũng thấy họ đang lâm vào tình trạng bối rối và bế tắc. Ðây là nhóm người lãnh đạo một đảng đang trống rỗng về tư tưởng, các đảng viên mất niềm tin chỉ chờ ngày tan rã, mạnh ai nấy chỉ mong vơ vét cho đầy túi tham. Một dấu hiệu của sự trống rỗng trong đầu óc đảng Cộng Sản là những lời phê bình của một cán bộ đứng đầu Viện Nghiên Cứu Tôn Giáo của đảng. Ông này lý luận rằng các giáo dân gốc ở Tam Tòa đã di cư vào Nam hết cả, khu đất nhà thờ không thuộc quyền sử dụng của những giáo dân mới, cho nên họ không được dùng nữa. Nói như vậy là không hiểu một giáo hội, một giáo phận là một thực thể pháp lý riêng, không tùy thuộc vào các cá nhân trong đó còn sống hay đã chết, còn ở tại chỗ hoặc đã đi xa. Một cán bộ cao cấp về tôn giáo mà trình độ hiểu biết ấu trĩ như vậy, thật đáng xấu hổ. Ông này còn nói giáo dân Tam Tòa đã “từ bé xé ra to” khi chuyển một “vấn đề dân sự thành vấn đề tôn giáo.” Chính nhận xét này vô tình cho thấy tất cả tội lỗi là do chủ trương, đường lối của đảng Cộng Sản gây ra. Vì phải đặt câu hỏi: Nguyên nhân vì sao mà “một vấn đề dân sự biến thành vấn đề tôn giáo?”
Chính chủ nghĩa Cộng Sản và đảng Cộng Sản đã tạo ra tình trạng đó. Ðảng Cộng Sản, từ thời Lê nin, sau khi cướp chính quyền phải thi hành chính sách toàn trị, tức là kiểm soát tất cả đời sống của dân bị họ cai trị, từ miếng cơm manh áo tới đời sống tinh thần. Trong đó có cả cuộc sống tâm linh. Do đó, họ coi các tôn giáo là thù nghịch, các tu sĩ, giáo hội là những mục tiêu phải trừ khử. Ðảng Cộng Sản không thể chấp nhận cho người dân được hướng về bất cứ một đạo lý, một đức tin nào khác, ngoài chủ nghĩa Cộng Sản; không được tôn kính ai ngoài các lãnh tụ đảng. Chính chủ trương độc tài toàn trị đó đã biến bao nhiêu vấn đề không có tính cách tôn giáo trở thành vấn đề tôn giáo. Ðã chính trị hóa các hoạt động tôn giáo bị ngăn cấm.
Trong vụ Bát Nhã, vấn đề chính là đảng Cộng Sản muốn chiếm độc quyền kiểm soát các Phật tử trong một giáo hội Phật Giáo nhà nước chỉ định. Trên căn bản, đây là vấn đề xâm phạm quyền tự do lập hội. Các tu sĩ bị đuổi lấy cớ thiếu hộ khẩu vì họ không có quyền tự do cư trú. Trong vụ Tam Tòa, căn bản là việc sử dụng đất đai bị nhà nước chiếm độc quyền, thích ai thì cho, không thì cấm. Ðảng Cộng Sản Việt Nam không đối xử tàn nhẫn riêng với các tăng ni Bát Nhã hoặc giáo dân Tam Tòa. Tất cả mọi người Việt Nam đều bị mất những quyền tự do như vậy. Tất cả mọi người dân Việt Nam đều là nạn nhân của chủ trương độc quyền chính trị của đảng Cộng Sản. Nhưng khi tín đồ các tôn giáo bị mất tự do thì vấn đề trở thành quyền tự do tín ngưỡng bị xúc phạm. Vì tín đồ các tôn giáo chỉ được tự do hành đạo khi nào tất cả mọi người dân Việt Nam được tự do lập hội, tự do cư trú và tự do sử dụng đất đai hợp pháp do tổ tiên mình để lại. Cho nên không phải các tăng ni ở tu viện Bát Nhã hay các giáo dân Tam Tòa đã chính trị hóa những vụ đàn áp của chính quyền Cộng Sản. Ðảng Cộng Sản đã chính trị hóa tất cả đời sống của người dân Việt vì chủ trương độc tài toàn trị của họ. Ở Bát Nhã, người dân đi tu đã bị đàn áp vì không có quyền tự do hội họp và tự do cư trú. Ở Tam Tòa, các giáo dân bị đàn áp vì không được quyền sử dụng đất đai thuộc quyền của giáo phận.
Các tăng ni Bát Nhã và đồng bào Công Giáo Tam Tòa đang đòi được hưởng những quyền tự do căn bản. Họ có thể mở đầu một phong trào đòi tự do dân chủ cho mọi người Việt Nam.
Hai vụ Bát Nhã và Tam Tòa xẩy ra trong lúc bao nhiêu người Việt khác đang phẫn nộ vì những vụ Hoàng Sa, Bô xít, và tầu đánh cá Việt Nam bị đâm chìm ở biển Ðông. Mọi người dân Việt Nam sẽ hiểu rằng đây không phải là những vấn đề thuần túy tôn giáo, Bát Nhã và Tam Tòa là dấu hiệu của cảnh lúng túng bất lực của một chế độ sắp tan rã. Bà con sẽ thấy rõ người dân sống trong nước ta đã bị tước đoạt những quyền tự do dân chủ căn bản để được sống xứng đáng làm người. Khi mọi người hiểu như vậy, thì chế độ Cộng Sản sẽ phải cáo chung.

12/08/2009 Posted by | Diễn đàn | | Leave a comment

Ngọn lửa Tam Tòa !!!

Ngọn lửa Tam Tòa !!!

 

Ngọn lửa Tam Tòa !!!
Xã luận bán nguyệt san Tự do Ngôn luận số 80 (01-08-2009)

 

http://dvtnradio.com/audio/Ngon_Lua_Tam_Toa.mp3

Xin bấm vào đây để
tải xuống BNSTDNL số 80

 
Tam Tòa là một giáo xứ Công giáo, nằm trong thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình, với ngôi nhà thờ chính tọa lạc bên bờ sông, giữa cầu Nhật Lệ và cửa biển Nhật Lệ. “Nhật Lệ” nguyên nghĩa là “sự rực rỡ của ánh sáng mặt trời” vì đó là nơi đầy ánh nắng (Wikipedia). Nhưng nếu hiểu nôm na là “nước mắt đổ từng ngày” thì cũng thích hợp với cái giáo xứ tại đây.
Quả thế, ngay từ khi được thành lập vào tiền bán thế kỷ 17 với tên nguyên thủy là Họ Lũy, vì gần Lũy Thầy, sau mang tên Sáo Bùn vì chạy về vùng ngư nghiệp Phú Hải, giáo xứ Tam Tòa nói riêng và giáo dân Quảng Bình nói chung đã phải chịu bách hại khi chúa Nguyễn Phúc Chu (1675-1725) bắt đầu cấm đạo vào những năm cuối thế kỷ 17, đầu thế kỷ 18. Sang thời các vua triều Nguyễn như Tự Đức (1829-1883), họ tiếp tục chịu bắt bớ và đã để lại cho Giáo hội Công giáo nhiều vị tử đạo thời danh. Năm 1886, quân Văn Thân đột kích giáo xứ Sáo Bùn, giết chết 52 giáo dân, đốt phá nhà thờ, khiến số giáo dân còn lại phải chạy về Đồng Hới lánh nạn và từ đây mang hẳn tên Tam Tòa. Ngôi nhà thờ đầu tiên của họ được xây dựng năm 1887 và đến năm 1940 thì được tái thiết khang trang và hoàn chỉnh với nền nhà rộng và ngôi tháp lớn như còn lưu dấu bây giờ.
Khi Việt Minh cầm quyền, chính giáo xứ Tam Tòa là nơi náu thân của các linh mục, tu sĩ và thanh niên Công giáo ở Hà Tĩnh và Nghệ An chạy trốn bạo lực Cộng sản, nhất là trong những năm khủng bố hoạn nạn từ 1947 đến 1954. Thành ra, sau khi đất nước chia đôi, phần lớn giáo dân Tam Tòa đã phải bỏ vào Nam vì chọn lấy tự do và để giữ gìn đức tin của họ. Riêng số ít oi ở lại thì đã trở thành đối tượng trả thù của nhà cầm quyền Cộng sản. Trong lòng giáo dân Quảng Bình nói chung và Tam Tòa nói riêng, còn in mãi hình ảnh hãi hùng của những cuộc đàn áp mà hai kẻ chủ mưu không ai khác là Hồ Chí Minh và Nguyễn Sĩ Đồng. Sự đàn áp quá dữ tợn khiến giáo dân chực nổi loạn nên Nguyễn Sĩ Đồng được Hồ Chí Minh gọi ra bắc, đổi tên là Đồng Sĩ Nguyên rồi điều đi Trường Sơn năm 1967 (nay ông ta là trung tướng hồi hưu). Ngôi nhà thờ Tam Tòa xinh đẹp bị phá năm 1968 cũng không nằm ngoài kế hoạch báo thù giáo dân và tiêu diệt Giáo hội của CS. Qua việc đặt súng, nhất là súng phòng không, bên trong hoặc bên cạnh nhà thờ và treo cờ đỏ trên nóc tháp chuông, CS đã mượn bàn tay Hoa Kỳ (phi cơ và pháo hạm) để tàn phá ngôi nhà thờ này cùng với nhà thờ Cầu Rầm giữa lòng thành phố Vinh và nhà thờ chính tòa ở vùng quê thuộc xã Nghi Diên (tên thường gọi là xã Đoài), huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. (Đan viện Thiên An ở Huế và Nhà thờ La Vang tại Quảng Trị cũng cùng chung số phận năm 1968 và 1972). Một nguồn tin khác thì cho rằng chính CS đã đặt chất nổ phá hủy nhà thờ Tam Tòa vào ngày 27-02-1968 cùng với chùa An Xá thuộc xã Lộc Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình để đổ tội cho Đế quốc Mỹ!
Sau năm 1975, với não trạng vô thần chiến đấu không hề lay chuyển, CS đã tìm cách xóa dấu vết tôn giáo, nhất là Công giáo, ở nơi đâu có thể xóa được. Và Tam Tòa là một trong những “đối tượng ưu tiên” xét vì sức mạnh đức tin và tinh thần chống Cộng vốn từng thấm đẫm chỗ đó. Rồi cộng thêm não trạng vô thần hưởng thụ, nhà cầm quyền tỉnh Quảng Bình và thành phố Đồng Hới chẳng những không trả lại nền nhà thờ Tam Tòa (vốn ở vào một vị trí rất mát, rất đắt, rất đẹp) để Giáo hội tái xây dựng, mà còn chiếm nhiều cơ sở mục vụ chung quanh, đem chia chác cho nhau hoặc biến thành những công trình khác, góp phần làm nên khu phố “Khân dông”, tức không dân, cách nói ngược để chỉ con phố toàn nhà cửa quan chức CS. Ngoài ra, từ năm 1997, khi phong trào làm ăn kinh tế và phát triển du lịch dâng cao, không hề hỏi ý kiến Tòa Giám mục Vinh, nhà cầm quyền CS đã tự tiện biến Nhà thờ Tam tòa thành “Chứng tích tội ác của đế quốc Mỹ” và đặt nó làm một chặng tham quan có bán vé trong “tour du lịch thăm viếng di tích chiến tranh ở miền Trung” cho khách ngoại quốc (gồm căn cứ Khe Sanh, cầu Hiền Lương, tức Bến Hải, và nhà thờ Tam Tòa). Đang khi chùa An Xá, huyện Lệ Thủy, vốn cũng bị phá cùng ngày, lại được “miễn” khỏi số phận “chứng tích tội ác” ấy! Đó là vì khách du lịch ngoại quốc đa phần là người Tây phương, theo Kitô giáo, nên một ngôi nhà thờ Công giáo đổ nát vì “bom Mỹ” dễ thu hút và kích động. Hơn nữa, ông Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Quảng Bình là người có phần hùn trong công ty du lịch “DMZ (Demilitarized Zone, vùng phi quân sự), Khe Sanh & Phong Nha” vốn phụ trách “tour” này. (theo Vietland).
Biết ý đồ phá đạo và hám tài ấy, Giáo phận Vinh từ mấy mươi năm nay đã muốn đòi lại vật sở hữu thiêng liêng của mình. Có lúc Giáo phận đã tỏ ra nhịn nhường bằng cách thuận đổi một nơi khác tương đương trong thành phố Đồng Hới để làm chốn thờ phượng cho gần 1000 tín hữu. Thế nhưng với thói gian manh cố hữu, nhà cầm quyền CS một mặt đã không chấp nhận địa điểm do Giáo quyền đề nghị, mặt khác lại giới thiệu 5 địa điểm ở vùng thôn quê, giữa ruộng đồng, thậm chí không có đường đi vào nữa. Thế là như tại Tòa Khâm Sứ, Giáo xứ Thái Hà, Giáo xứ An Bằng, Dòng Phaolô Vĩnh Long, dòng Thánh Gia Long Xuyên, dòng Mến Thánh Giá Thủ Thiêm… hôm 20-07 mới rồi, Giáo phận Vinh và Giáo xứ Tam Tòa đành phải thực thi quyền làm chủ của mình, nhất là quyền làm chủ những đất đai cơ sở thờ tự vốn là quyền tư hữu thiêng liêng, chính đáng mà đảng CS đã ngang nhiên tước đoạt của toàn dân từ ngày nó thống trị đất Việt. Và cũng như tại các địa điểm nói trên, CS đã huy động toàn thể bộ máy của mình vào cuộc, từ bộ máy đàn áp tàn bạo của công an, bộ máy tuyên truyền dối trá của báo chí đến bộ máy dụ dỗ lừa gạt của Mặt trận và bộ máy vận động hỏa mù của ngoại giao.
Một điều đáng lưu ý là từ vụ Tòa Khâm sứ trở đi, CS chơi trò ném đá giấu tay trong các cuộc đàn áp bằng cách tạo ra nhóm “quần chúng bức xúc”, “nhân dân tự phát” luôn sẵn sàng chửi bới các tín đồ, các tu sĩ, xúc phạm chốn thiêng thánh, bạo hành với cả người già lão, phụ nữ và trẻ thơ vô tội. Thực chất đây chỉ là công an trá hình hoặc là hạng nghiện ngập hay thất nghiệp được thuê mướn, chứ chưa hẳn là bọn đầu gấu, xã hội đen, tay anh chị. Hạng sống ngoài vòng pháp luật này không dại gì giao tiếp với những kẻ “đại diện pháp luật” trên danh nghĩa, không dễ gì phục vụ cho cơ quan công quyền để dùng bạo lực với dân lành, nhất là dân có tín ngưỡng, ngay cả nặng lời với họ chúng cũng tránh vì chính chúng ít nhiều đều có tín ngưỡng. Rồi với tính yêng hùng, sĩ khí giang hồ, chúng hiếm khi mạnh tay với người già, phụ nữ và trẻ nhỏ. Ngoài ra, những băng đảng xã hội đen không thể có quân số đông đảo, lên tới cả trăm như trong các vụ việc từ Hà Nội đến Quảng Bình và nhiều nơi khác. Ngược lại, nhà cầm quyền cũng chẳng dại gì sử dụng những tay xã hội đen bởi chúng là con dao hai lưỡi, không thể kiểm soát được; lỡ có tên nào nổi hứng kể về chiến tích mà nhà nước thuê chúng thực hiện ngoài quán nhậu thì làm sao bưng bít nổi. Thành ra, như tại các nước CS khác trước đây, công an luôn mang sẵn trong mình máu tàn bạo và óc mù quáng vì họ đã được đào tạo không phải trở thành “bạn dân” mà là tôi tớ (hay theo kiểu nói của Lê Duẩn) là chó săn của đảng.

Trở lại với các nạn nhân và thân hữu của họ (tức là mọi tín đồ Công giáo, đặc biệt tại Giáo phận Vinh), Cộng sản không ngờ đã gặp phải “ổ kiến lửa”. Tinh thần của một Liên Đoàn Công Giáo Nghệ Tĩnh Bình, Nhà Chung Xã Đoài, của một Trang Nứa, Nghi Lộc, Quỳnh Lưu, Cầu Rầm, Cẩm Xuyên, Vạn Lộc, Thuận Nghĩa, Hướng Phương, Đông Yên… năm nào vẫn còn đó. Những bản thông báo thẳng thắn rõ ràng của Tòa Giám mục, những lời tuyên bố không chút sợ hãi của chủ chăn lẫn con chiên Tam Tòa, những cuộc tụ họp cầu nguyện rồi tuần hành tại mỗi Giáo hạt của hàng chục ngàn tín hữu, những chuyến thăm viếng tức thì và can đảm đến nơi bị nạn của vô số đoàn thể và cá nhân, những thái độ vừa hiền lành vừa anh hùng của những linh mục và giáo hữu bị đánh đập, những đòi hỏi mạnh mẽ và quyết liệt của các chức sắc thẩm quyền Giáo phận, những cuộc trả lời phỏng vấn đầy khí phách của các giáo dân bị bắt được thả, những cuộc hiệp thông cầu nguyện và lên tiếng phản đối nhiều vô kể từ trong lẫn ngoài nước…. tất cả đã và đang làm cho nhà cầm quyền cộng sản địa phương lẫn trung ương lúng túng, làm cho báo đài nhà nước, vốn chỉ biết viết theo chỉ thị, không cần điều tra thực địa, suy nghĩ đúng sai, phen này phải ê mặt vì bị lột mặt nạ “công cụ đê hèn”, làm cho giới công an từ lâu hung hăng, tưởng đè ép nhân dân dễ dàng như chà con kiến, như bẻ chiếc đũa, nay hẳn phải e dè.

Thông tin mới nhất cho thấy Cộng sản có vẻ chùn tay, vì đã phái những viên chức cao cấp đến làm việc với Giáo quyền, đã thả 4 trong 7 người bị khởi tố và nhiều tín hữu bị tạm giam, đã nghe những đòi hỏi của Linh mục Tổng đại diện mà không (hay chưa) có lời phản bác. Tuy nhiên, vốn mang bản chất gian manh và luôn có chiến lược lùi một bước tiến hai bước, CS không bao giờ có thiện chí, đáng tin tưởng hay biết phục thiện. Thành ra, Tòa Giám mục Vinh cần tiếp tục đưa ra những đòi hỏi ngày càng căn bản: không chỉ buộc “bồi thường tại chỗ lán che của giáo xứ Tam Tòa, trả lại Thánh giá, trả lại tài sản của Giáo hội và tài sản của giáo dân” mà còn buộc trả lại nhà thờ Tam Tòa, rồi mọi cơ sở tôn giáo đã bị cướp đoạt, rồi là quyền tư hữu về đất đai; không chỉ buộc “dừng ngay việc xuyên tạc sự thật, bôi nhọ tôn giáo, kích động hận thù, gây chia rẽ khối đoàn kết lương giáo” (Thông cáo số 4) mà còn buộc trả lại quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do tôn giáo… Phải làm sao cho ngọn lửa Tam Tòa bùng lên thành biển lửa, từ đấy rực lên ánh sáng của mặt trời tự do, phải đẩy cuộc đấu tranh cho tới cùng trong tinh thần bất bạo động, xóa sổ cho được chủ nghĩa và chế độ CS, hất cẳng cho được đảng CS (nếu nó không thay đổi, mà nó có khi nào thay đổi không?). Bằng không thì dân tộc Việt Nam sẽ tiếp tục “nhỏ lệ từng ngày”.

Ban Biên Tập


Shared via AddThis

09/08/2009 Posted by | Diễn đàn | | Leave a comment

Chính quyền Quảng Bình phải chịu trách nhiệm về những tội ác với giáo dân

Chính quyền Quảng Bình phải chịu trách nhiệm về những tội ác với giáo dân

Shared via AddThis

31/07/2009 Posted by | Diễn đàn | | Leave a comment

Ai Bịt Miệng Ðại Sứ Michael Michalak

Ai Bịt Miệng Ðại Sứ Michael Michalak

Shared via AddThis

31/07/2009 Posted by | Diễn đàn | | Leave a comment

Bàn tay lông lá của Trung Cộng !!!

Bàn tay lông lá của Trung Cộng !!!

Shared via AddThis

29/07/2009 Posted by | Diễn đàn | | Leave a comment

Vịn Câu Thơ Đứng Dậy

Vịn Câu Thơ Đứng Dậy

Vịn Câu Thơ Đứng Dậy

 http://dvtnradio.com/audio/VinCauThoDungDay.mp3

Có những lúc ngã lòng
Tôi vịn câu thơ mà đứng dậy

 

Nhà thơ Phùng Quán đã kết luận như thế khi nhìn lại quãng đời 30 năm ông đã sống trong bóng tối của bạc đãi, đe dọa, sống trong cảnh lưu đày ngay giữa lòng Hà Nội, nơi đó, từ thuở thiếu thời, ông đã từng đổ máu để giữ gìn.
Những lúc ngã lòng là những lúc nhà thơ Phùng Quán phải chọn một trong hai con đường đầy bất trắc đang chờ: tiếp tục chịu đựng khó khăn, đói khát, tiếp tục đi câu cá trộm, viết văn trộm hay nên viết một bản tự kiểm nộp lên Hội Nhà Văn để được trả lại thẻ hội viên, được mỗi tháng mua vài cân gạo và được phép sắp hàng mua một vài nhu yếu phẩm.

Những lúc ngã lòng là lúc nhà thơ phải chọn một trong hai thái độ làm người: chịu đựng sự nguyền rủa, sự rẻ khinh, sự hoài nghi, xa lánh của bạn bè, sự lãng quên của bà con thân thuộc, chịu làm kẻ mất quê hương ngay trên chính quê hương mình, hay cúi đầu khuất phục như Chế Lan Viên, Xuân Diệu…tô son điểm phấn cho một chế độ đã phản bội xương máu đồng bào, phản bội ước mơ của dân tộc.

Trong lời tựa của thi phẩm Trăng Hoàng Cung, nhà thơ Phùng Quán đã viết: “Tôi đã trả giá cho Thơ bằng 30 năm tốt đẹp của đời mình. Từ năm 24 tuổi đến năm 56 tuổi, cơ chế quan liêu đã đánh trả tôi đến chí mạng. Tước đoạt của tôi quyền lao động thiêng liêng: sáng tác, xuất bản, quyền được sinh sống cho ra một con người. Và dìm ngập tôi trong bùn nhơ, lăng nhục trước công luận….”. Và ông đã viết tiếp: “Nhưng thơ đã cứu tôi, giúp tôi đứng vững, dạy tôi dũng khí bền gan”.

Thật vậy,

Có những lúc ngã lòng
Tôi vịn câu thơ mà đứng dậy

Nhà thơ Phùng Quán đã vịn thơ mà đứng dậy. Đứng dậy để làm một nhà thơ chân thật. Chân thật trọn đời. Vì chọn để làm một nhà thơ chân thật nên trong suốt 30 năm ông đã phải sống trong đói khát, trong cô đơn. Ngày 22 tháng 1 năm 1995, nhà thơ bất khuất Phùng Quán ra đi. Ông ra đi, để lại cho các thế hệ Việt Nam hôm nay và mai sau Lời Mẹ Dặn:

 

Yêu ai cứ bảo là yêu
Ghét ai cứ bảo là ghét
Dù ai ngon ngọt nuông chiều
Cũng không nói yêu thành ghét
Dù ai cầm dao dọa giết
Cũng không nói ghét thành yêu.
Tôi muốn làm nhà văn chân thật
Chân thật trọn đời
Đường mật công danh không làm ngọt được lưỡi tôi
Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã
Bút giấy tôi ai cướp giật đi
Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá.

 

Xa hơn, nửa thế kỷ trước ngày Phùng Quán qua đời, bên bờ sông Pắc-Nậm chia hai nước Việt Nam, Trung Hoa, đã có một thanh niên Việt Nam khác vịn câu thơ đứng dậy. “Nước non ta ai ngăn trở ta về!”, chàng thanh niên Việt Nam 22 tuổi thét lên giữa núi rừng Việt Bắc khi đứng nhìn về phía bên kia sông Pắc-Nậm. Thấp thoáng trong đám sương mờ là những bức tường vôi, là những làn khói trắng thân yêu. Đó là tổ quốc của ông, là quê cha, quê mẹ của ông. Chỉ cách một dòng sông nhỏ mà xa như nghìn trùng diệu vợi:

 

Ta đã về đứng bên bờ Pắc Nậm.
Mặc heo may quấn quít hồn cố hương,
Thấm hàng cây lấp ló những ven tường.
Hòa làn khói mơ màng bao nhớ ước.
Cách dòng nước ta là người mất nước,
Nước non ta, ai ngăn trở ta về?

 

Người thanh niên 22 tuổi, tác giả của bài thơ không ai khác hơn là nhà cách mạng, triết gia, và nhà thơ Lý Đông A.

Cách dòng nước ta là người mất nước,
Nước non ta ai ngăn trở ta về.

Mỗi lời thơ của ông thống thiết như tiếng chim Quốc gọi nửa đêm, như từng mũi kim đâm sâu vào tim, như từng hạt cát rơi vào sâu trong mắt của những người có quê hương mà đã mất quê hương.

Và xa hơn nữa, gần một ngàn năm trước, bên dòng sông Như Nguyệt, danh tướng và cũng là nhà thơ Lý Thường Kiệt đối diện với hàng chục vạn hùng binh của đại tướng Quách Quì nhà Hán. Cuộc chiến đã diễn ra suốt tháng. Quân Nam đang yếu sức. Kinh đô Thăng Long đang bị đe dọa. Giữa lúc nguy nan đó, Lý Thường Kiệt đã vịn thơ mà đứng dậy qua bài thơ Nam Quốc Sơn Hà:

 

Nam Quốc sơn hà Nam Đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm?
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư!

 

Dịch:

 

Sông núi nước Nam vua Nam ở
Rành rành định phận tại sách trời
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm?
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời!

 

Ðọc lại dòng sử Việt rạng ngời, chúng ta cũng dể dàng nhận ra rằng, không phải chỉ những anh hùng dân tộc, những nhà cách mạng đã vịn câu thơ đứng dậy mà ngay cả dân tộc Việt Nam cũng đã hơn một lần vịn thơ đứng dậy trong hai cuộc kháng Nguyên lừng lẫy. Thơ, trong lúc khó khăn đó, đã chuyên chở niềm tin về cho dân tộc như Thượng Tướng Trần Quang Khải dặn dò:

 

Chương Dương đoạt giáo giặc
Hàm Tử bắt quân thù
Thái bình nên gắng sức
Non nước đó nghìn thu

 

Dân tộc Việt Nam là dân tộc của thi ca và mỗi người Việt Nam là một nhà thơ. Nhận xét đó không phải quá khoe khoang hay cường điệu.

Thơ Việt Nam thật tuyệt vời. Thơ Việt Nam chảy qua những giòng sông trăng thơ mộng. Thơ trải trên những cánh đồng lúa chín phì nhiêu qua những câu ca dao tình tứ dễ thương đầy ý nghĩa:

 

Tạnh trời mưa kéo về non
Hẹn cùng cây cỏ chớ còn trông mưa

(Ca Dao)

 

Xin cầu nguyện cho đàn chim Việt trên vùng đất mà nhà văn đã tuẫn tiết Phạm Việt Châu gọi là “vùng định mệnh”, qua bao nhiêu sóng gió, cuối cùng sẽ cùng nhau viết nên bài sử thi vinh quang cho một nước Việt Nam Mới tự do dân chủ và thịnh vượng, một nước Việt Nam không còn xiềng xích, hận thù, không còn bị giới hạn bởi các lằn ranh, vĩ tuyến, hiệp định, địa phương, trong nước, ngoài nước, tôn giáo.

Tác giả của bài hùng sử thi Việt Nam Mới đó chắc chắn không phải chỉ một ai, một cá nhân nào, một anh hùng nào, một tổ chức đảng phái nào, nhưng là của cả dân tộc Việt Nam đang đứng lên để nhận diện chính mình, nhận diện quê hương mình, nhận diện đồng bào cùng máu mủ với mình sau hơn một thế kỷ bị bịt mắt bằng những tấm vải đen tham vọng quốc tế, bị cách ly bằng những hàng rào ý thức hệ ngoại lai.

Để được nghe bài thơ đó, ngay hôm nay và từ trong mỗi trái tim, người Việt, trong và ngoài nước, phải can đảm vượt thoát khỏi quỹ đạo mặc cảm, tị hiềm, ghen ghét đã vướng sâu vào tâm thức như kết quả của mấy mươi năm tương tàn đẫm máu, phải biết đoàn kết nhau trên một mẫu số chung duy nhất: Dân Tộc, và một mục tiêu duy nhất là cứu đất nước ra khỏi vũng lầy độc tài, nghèo nàn, lạc hậu hiện nay.

Và từ đó, cùng nhau chắp cánh bay vào lòng Mẹ Việt Nam, bao giờ cũng bao dung và rộng lượng, đang dang tay chờ đón.

 

Trần Trung Đạo


Shared via AddThis

29/07/2009 Posted by | Diễn đàn | | Leave a comment

Xin hãy cứu lấy tổ quốc!

Audio

 

Xin hãy cứu lấy tổ quốc!

 

Chu Tất Tiến
 

Lịch sử của dân Việt là một chuỗi những biến cố vừa hùng tráng, oai phong, vừa phẫn nộ và đau đớn chập chùng.

Những giai đoạn hùng cứ biển Đông xen lẫn với những thời gian chịu áp bức của ngoại nhân. Nhưng nổi bật lên trên tất cả và kéo dài hơn 4000 năm là cuộc đối kháng với Bắc Phương, cho đến ngày nay, vẫn chưa ngừng nghỉ. Tùy theo tinh thần và khả năng của giới lãnh đạo mà có lúc dân tộc ta hiên ngang đánh đuổi được quân xâm lược tràn từ phía Bắc xuống, làm kinh động cả thế giới, hay đành chấp nhận tủi nhục làm nô lệ, dù tạm thời, cho các lực luợng Thanh, Minh, Nguyên, hay Mông Cổ. Điều kinh sợ nhất là trong khi đất nước ta không thiếu những danh tướng lừng lẫy được toàn thể thế giới ngưỡng mộ từ Hai Bà Trưng, Bà Triệu, đến các đời Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê, với Trần Hưng Đạo, Lý Thường Kiệt, Phạm Ngũ Lão, theo sau là Quang Trung Đại Đế, rồi các vị Vua anh hùng như Hàm Nghi, Duy Tân, cũng có những kẻ hèn hạ, rước voi về dầy mồ tổ tiên, bán nước cho giặc. Những Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống, và cả họ Mạc cũng tỏ ra khiếp nhược, dâng nước cho Tầu. Và, một nhân vật, tuy có tài quản lý, nhưng cũng là một kẻ, cuối cùng, cũng hiện nguyên hình là làm hại đất nước: Hồ quý Ly. Từ cuối thế kỷ 14 sang đầu thế kỷ 15, Nguyễn Trãi đã viết bài hịch hùng tráng “Bình Ngô Đại Cáo”, vạch tội họ HỒ: “Nhân họ HỒ chính sự phiền hà. Để trong nước lòng dân oán hận. Quân cuồng Minh thừa cơ gây loạn. Bọn gian tà còn bán nước cầu vinh. Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn. Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ…”

Đau đớn thay, hơn năm trăm năm sau, một người tự xưng họ HỒ lại tái diễn trò bán nước, buôn dân, cống nộp giang sơn ta cho kẻ thù truyền kiếp Bắc Phương.

Cũng dưới sự cai trị của họ HỒ, dân đen cũng bị tiếp tục “nướng trên ngọn lửa hung tàn”, con đỏ cũng bị “vùi xuống dưới hầm tai vạ”. Đau đớn hơn nữa là mặc dù ngày nay, dưới ánh sáng của văn minh đầu thế kỷ 21, khi việc thông tin đã lan tràn trên khắp mọi miền thế giới, khi trình độ hiểu biết của dân ta gấp trăm lần các thế kỷ cu,õ nước ta vẫn tiếp tục bị bán đứng một cách ngang nhiên, trơ trẽn, khốn khổ khốn nạn, bởi những tay lãnh đạo, là con cháu của họ HỒ. Nếu không có biện pháp gì ngăn chặn, thì chỉ trong một thập niên nữa, Việt Nam sẽ trở thành một đất nước nô lệ dưới sự quản lý của Trung Cộng. Nhiều sự việc liên tiếp, công khai, đã chứng minh nhóm lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam đang tiếp tục BÁN NƯỚC, để đổi lấy sự vinh thân phì gia của họ, mặc kệ cho danh dự Tổ Tiên bị chà đạp nhục nhã; mặc kệ vong linh của hàng trăm triệu dân Việt, qua bốn ngàn năm, đã hy sinh bảo vệ từng tấc đất giang sơn; mặc kệ cho những thế hệ sau hứng chịu hậu quả cay nghiệt của đời làm tôi mọi cho Tầu Cộng. Sau việc dâng Hoàng Sa, Trường Sa, và dải đất cực Bắc cho Tầu Cộng, bây giờ Nguyễn Tấn Dũng và đồng bọn đang tiến hành một chương trình bán luôn miền Nam cho giặc, qua kế hoạch khai thác mỏ Bauxít tại Đắc Nông.

Tất cả mọi chiến lược gia từ xưa đến nay đều biết rằng miền Cao Nguyên Trung Phần là điểm chiến lược nhìn bao quát toàn bộ ba xứ Đông Dương: Việt, Miên, Lào. Người Pháp cũng từng đồng ý: “Ai chiếm được Cao Nguyên Trung Phần là chiếm được toàn bộ bán đảo Đông Dương”. Vậy mà bây giờ, Nguyễn Tấn Dũng, Nông Đức Mạnh, và Đảng Cộng Sản đang âm mưu bán đứt miền này cho Trung Cộng, dưới nhãn hiệu “khai thác mỏ Bauxít”.
Thử nhìn về các vấn đề liên quan đến việc khai thác mỏ Bauxít tại Đắc Nông:
 

1-Về tính chất kinh tế và khoa học

Bauxít là loại quặng, nằm ngay trên mặt đất, hay ở một độ nông, có mầu đỏ nâu (brown mud), lẫn trong đất và đất sét, được sử dụng từ rất lâu trước khi được chế biến thành Aluminum (nhôm). Ở Guana, từ nhiều thế kỷ trước, người ta dùng loại đất này để làm nhà. Sau khi biết được đặc tính “nhôm” trong bauxít, thì nhiều nước trên thế giới đã khai thác bauxít, và đem lại lợi nhuận khổng lồ cho giới đầu tư, vì nhôm hầu như hiện diện trong khắp mọi đồ dùng, vật dụng, từ thìa, nĩa đến máy xe hơi hay vỏ máy bay. Tùy theo đất đai, trung bình cứ 4 tấn quặng, lấy ra được 2 tấn “alumina”, từ 2 tấn “alumina”, người ta lấy ra được 1 tấn nhôm ròng. Theo ước tính của các “chuyên viên” khoa học của Đảng Cộng Sản, thì bauxit có nhiều tại miền Bắc, và Cao Nguyên Trung Phần. Riêng tại Đắc Nông, trữ lượng nhôm có từ 1 đến 2 triệu tấn. Trên thế giới, nơi nhiều Bauxit nhất là Guinê, với hơn 8 triệu tấn, Úc hơn 7 triệu tấn, Hoa Kỳ chỉ có chừng 40,000 tấn. Nhu cầu về nhôm rất cao, tuy nhiên vì tác hại môi trường của nó, nhiều nước đã giảm sự khai thác bauxít và chỉ khai thác bauxít ở những miền sa mạc hoang vắng. Gần đây, chính Trung Cộng đã đóng cửa trên 150 địa điểm khai thác bauxít vì bị các nhà khoa học và dân chúng phản đối kịch liệt. Để tiếp tục khai thác lợi nhuận này, Trung Cộng tỏa đi khắp nơi trên thế giới để tìm nhôm. Một trong những nơi mà Trung Cộng đang tiến hành khai thác là Việt Nam.
 

2-Về lợi ích kinh tế

Một khi đã ký nhượng đất cho Trung Cộng sử dụng, lợi nhuận dĩ nhiên là về phía Trung Cộng. Nhà cầm quyền Cộng Sản có thể chỉ được chia phần trăm và tiền thuế. Mà cho dù được chia lãi và tiền thuế, người dân Việt Nam cũng chẳng được hưởng lợi lộc gì. Dưới chế độ được liệt kê vào những nước tham nhũng nhất thế giới, tiền chia này nhất định vào túi lãnh đạo đến 9/10, và chỉ vào quỹ quốc gia một chút xíu. Nếu chia đầu người, chắc không đến chục đô la một năm. Kinh nghiệm Tết năm vừa qua, quỹ xóa đói giảm nghèo của Liên Hiệp Quốc chui gần hết vào túi cán bộ. (Tại sao lại có quỹ xóa đói giảm nghèo khi mà Việt Nam có những sân golf, khách sạn 5 sao, nơi giải trí, ăn chơi vào bậc nhất thế giới? Những lãnh đạo Cộng Sản, từ giai cấp công nông năm 1975, nay ai cũng có tài sản khổng lồ. Nếu công khai tài sản, chắc có nhiều lãnh đạo được kê tên vào danh sách những kẻ giầu nhất thế giới của Forbes. )
 

3-Về tác hại của môi trường

Theo những nhà khoa học, trong đó có Tiến Sĩ Richard Yokel của University of Kentucky School of Pharmacology, nhôm là một chất độc hại gây tổn thương cho óc não và hệ thần kinh. Nhôm gây nên chứng “encephalopathy”, làm hủy mô não, làm mềm xương và gây nên bệnh thiếu máu (anemia), giảm thọ, và có thể gây nên bệnh Parkinson. Nhôm không chỉ hại đến não bộ của con người mà cũng là một vấn nạn lớn trong nông nghiệp ở chỗ làm suy đồi đất đai. Chất nhôm được dẫn qua nước chẩy vào sông ngòi sẽ tiêu diệt tất cả mọi thủy sản. Tôm cá đều chết hết. Với súc vật, nhôm có thể gây ra triệu chứng run rẩy giống như Parkinson, và chết sớm. Sau khi mỏ nhôm được khai thác, đất đai biến thành hàng dẫy những lỗ hố khổng lồ không thể lấp nổi, nước đọng ao tù đỏ quạch, không có sinh vật gì sống sót. Điều quan trọng là muốn rửa quặng, kẻ khai thác phải cần đến nước. Với chỉ tiêu khai thác 1 triệu tấn nhôm ở Đắc Nông, người ta cần đến cả chục đập nước. Như thế toàn bộ nguồn nước tiêu dùng, nước uống cho cao nguyên sẽ bị trưng dụng. Dân Cao Nguyên rồi uống nước ở đâu? Mực nước Sông Cửu Long hiện nay đang bị thấp vì Trung Cộng xây quá nhiều đập nước ở thượng nguồn, nay lại bị trưng dụng để rửa nhôm, thì đất đai hạ nguồn sẽ dần thành sa mạc. Hơn nữa, sau khi rửa quặng xong, nước lại chẩy xuống chỗ đất thấp và ra biển. Toàn bộ dân sử dụng nước để tưới ruộng vườn, sẽ bị ảnh hưởng. Đời sống nông dân rồi khốn khổ. Cửa biển nơi nước nhôm chẩy ra sẽ không còn cá, vì sẽ chết hết cả. Đời sống ngư dân rồi cũng khốn khổ.

Thêm vào đó, khi sử dụng máy để đào xới, độ rung chuyển của những cái máy cạp khổng lồ hoạt động suốt ngày đêm, sẽ làm chấn động địa chất. Cao Nguyên Trung Phần vốn có những núi lửa đang ngủ, nay bị kích thích, có thể hoạt động lại. Riêng phạm vi tiếng ồn phát ra 24 giờ một ngày có thể làm cho những cư dân trong vùng bị điếc tai, hoặc nhức óc kinh niên. Bệnh tật có thể phát ra mà không thể chữa trị. Bụi nhôm cũng là một vấn đề lớn. Người ta chỉ cần hít thở bụi nhôm, cũng bị nhiễm bệnh khó thở, nghẹt phổi và các bệnh về phổi khác. Khi thành phẩm đã xong, kẻ khai thác phải dùng đường bộ và đường biển để chuyển về nước họ. Trên đường đi, các thành phẩm ấy sẽ tiêu diệt nhiều loại côn trùng có ích, đồng thời rải ra rất nhiều vi khuẩn gây nên các sự nhiễm trùng và nhiều căn bệnh quái dị, trong khi giết tôm cá chết hàng loạt.

Ở Jamaica, các mỏ nhôm đã tàn phá đất đai, biến rừng thành sa mạc. Miền Nam Jamaica, 3 triệu tấn chất thải từ bauxit vẫn còn ảnh hưởng lâu dài đến sông ngòi và đất đai chung quanh. (http://www.jamaicaobserver.com/columns/html/) Điều kinh hoàng là trong cuộc nghiên cứu gần đây, các khoa học gia thấy đa số trẻ em sống gần nơi đó, đều bị uể oải và thích tự tử hàng loạt.
 

4-Về tác hại xã hội

Muốn khai thác 1 triệu tấn nhôm, người ta phải cần một diện tích mênh mông. Tùy theo địa chất, có thể từ vài chục ngàn, trăm ngàn, đến cả triệu mẫu rừng tương đương với hàng chục thành phố phải khoanh lại. Như thế, phải đuổi dân đi. Dân chúng quanh vùng sẽ phải di tản. Đi đâu? Vào thành phố lân cận? Có chỗ ở không? Những thành phố lân cận sẽ bị xáo trộn về tài chánh, về xã hội, về kinh tế. Những người bị đuổi có được bồi thường thỏa đáng không? Hay lại như ở Móng Cáy, Hưng Yên, Đồng Nai, Cần Thơ.. những nơi đầy dẫy Dân Oan bị cướp nhà, cướp đất cho sân Golf, Khách Sạn, Sân Chơi của lãnh đạo? Nếu có bồi thường thì ai bồi thường cho sự rối loạn sinh hoạt của gia đình? Bao nhiêu thanh thiếu niên phải rời xa cha mẹ, đi làm phu mỏ, nô lệ cho Tầu Cộng? Bao nhiêu vợ chồng tan rã? Bao nhiêu oan trái, thương đau với những cô gái phải bán thân, nuôi miệng? Khi chiếm được Cao Nguyên rồi, bọn Trung Cộng sẽ mang văn hóa người Hoa, dụng cụ Hoa, phương tiện Hoa, ngôn ngữ Hoa lấn chiếm những vùng đất chung quanh, tiêu diệt văn hóa người Thượng, người Nam. Trung Cộng sẽ hủ hóa các thiếu nữ quanh vùng, hoặc hãm hiếp, hoặc cho tiền, biến họ thành nô lệ tình dục, rồi đẻ con mang tên Trung Hoa. Có thể một loại thẻ căn cước được cấp riêng cho những người làm việc cho mỏ, và những ai có quan hệ với mỏ, biến họ thành công dân Trung Cộng.

Để giao thông và chuyên chở thuận tiện, nhất định bọn bán nước và quân xâm lược sẽ thực hiện những xa lộ xuyên suốt từ Trung Hoa qua Việt. Cạnh đường đi, sẽ có văn hóa và nhạc Trung Hoa đón tiếp. Dần dần rồi đất nước chỉ còn nghe nhạc Hoa từ Bắc vào Nam. Việt Nam rồi thành thuộc địa của Tầu như ngàn năm trước.
 

5-Về tác hại chính trị và quân sự

Đắc Nông và những vùng chung quanh vốn là nơi định cư của nhiều sắc tộc Thượng. Trong số những người Thượng hòa bình, cũng có những người Thượng luôn mong ước có một tiểu quốc cho riêng họ. Phong trào đòi Tự Trị đã nhiều lần được châm lửa. Nay, nếu Trung Cộng mang miếng mồi ngon ra chiêu dụ, có thể phong trào đòi ly khai sẽ nổ lên nữa. Một khi phong trào được hỗ trợ của quan thầy Trung Cộng, thì đệ tử Việt Cộng chỉ có khoanh tay đứng nhìn, không dám càn quét như hồi tiêu diệt phong trào đòi tự do tôn giáo của người Tin Lành. Một điều dễ sợ hơn tất cả là lực luợng gọi là “công nhân, kỹ thuật viên” người Hoa đến làm việc, có thể toàn là Công An hay quân nhân Trung Cộng. Với số lượng từ 7,000 người đến 10,000 người Hoa Cộng, tương đương với 2 Sư Đoàn chiếm đóng ở đây, cộng thêm số thân nhân vợ con đến thăm nuôi đều đặn, và số gián điệp giả dạng báo chí, truyền thanh, truyền hình đến phục vụ cho khu mỏ độc lập này, ước tính thêm cả ngàn người nữa, sẽ không có lực luợng người Việt nào có thể chống cự lại hoặc đuổi chúng đi. Một hệ thống Rada phòng không sẽ được thiết lập. Nhiều cơ quan ngầm dưới đất để làm những chuyện ma quỷ gì đó sẽ được xây dựng trong vòng đai Nội Bất Xuất, Ngoại Bất Nhập này. Chúng có thể nghe lén toàn bộ các cuộc điện đàm tư tình, kiếm “gái gọi”, hoặc buôn bán lậu của các lãnh đạo mà “black mail”, nghĩa là gửi thư hăm dọa, thì các lãnh đạo sẽ phải im như hến, mặc cho Trung Cộng muốn làm gì thì làm. Như thế, MIỀN CAO NGUYÊN VIỆT NAM SẼ MẤT vào tay Trung Cộng một cách rất hòa bình. NƯỚC VIỆT NAM SẼ BỊ CẮT LÀM HAI MẢNH, Ở GIỮA LÀ TRÁI ĐỘN TRUNG CỘNG. Nếu có sự xâu xé, giành ăn giữa các lãnh tụ nẩy ra, Trung Cộng có thể đưa người của chúng vào Ban Lãnh Tụ, từ đó, khống chế toàn bộ Việt Nam. Lúc đó, Việt Nam đương nhiên trở thành tiểu quốc của Trung Cộng, mà không phải tốn phí một viên đạn!
 

6-Tính chất cực kỳ lì lợm của Đảng Cộng Sản Việt Nam

Gần đây, nhiều nhà khoa học trong nước, nhiều cựu chiến sĩ, tướng lãnh, cán bộ, đảng viên, trong đó có cả Võ Nguyên Giáp và một cựu đại sứ Cộng Sản đã lên tiếng chống đối lại dự án khai thác Bauxit này. Nhưng mặc cho các người này kêu gọi, Nguyễn Tấn Dũng và Nông Đức Mạnh vẫn cứ chứng tỏ rằng mình là những tên cực kỳ lì lợm, bỏ ngoài tai mọi lời khuyên răn của dân chúng, và tiếp tục cho Trung cộng khai thác khu mỏ. Dũng và Mạnh dư biết rằng tên tuổi và dòng họ của họ sẽ bị phỉ nhổ, khinh miệt, nhưng họ vẫn ngoan cố tuyên bố lếu láo về kế hoạch này, cố tình làm ngơ trước mọi chỉ trích của thế giới và người dân Việt về mọi hành động bán nước, buôn dân của họ. Dũng, Mạnh và Lãnh Tụ Đảng Cộng Sản Việt Nam chính là tội đồ của dân tộc. Họ đã theo chân Tầu Cộng gây ra cuộc chiến Nam Bắc, làm chết trên 4 triệu người cả hai miền, rồi ký kết dâng đất, dâng biển, nay lại bán đứng Cao Nguyên. Ngày 13 tháng 5 năm 2009, hạn kỳ cuối cùng để Việt Nam bảo vệ chủ quyền biển sắp tới mà Dũng, Mạnh vẫn khoanh tay làm ngơ, mặc cho Trung cộng làm chủ lãnh hải, có nơi vào sát gần bờ, mặc cho ngư dân rồi sẽ bỏ thuyền vì hết chỗ đánh cá. Nếu “xâm nhập vào lãnh hải Trung Cộng sẽ bị bắn chết!” Người Việt rồi sẽ hết cá để ăn!
 

7-Việc làm của chúng ta

Bởi vậy, tất cả những ai có lòng nghĩ đến đất nước phải đồng loạt bắt tay nhau, lên tiếng, hò la, chuyển tin đến mọi miền đất nước, đến những ngõ ngách của thế giới, mong họ cùng giúp chúng ta đòi lại đất tổ đã bao đời gầy dựng với sinh mạng của bao triệu chiến sĩ.

– Nhân dân Đắc Nông: xin hãy xuống đường, chống đối việc khai thác mỏ đến cùng. Nhất định không di chuyển, không bỏ đi, và không làm tôi mọi cho Tầu Cộng.

– Những ai từng ở Tây Nguyên và vùng cao nguyên như Đà Lạt, Pleiku, KonTum, Đắc Lắc, Di Linh, Buôn Mê Thuột: Xin hãy cất lên tiếng nói đòi lại đất đai thân yêu đang bị Dũng, Mạnh bán cho Trung Cộng.

– Sinh viên, học sinh, giới trẻ trong nước: Hãy xuống đường! Xuống Đường! Đòi lại danh dự cho dân tộc đang bị bôi nhục bởi một nhóm lãnh tụ hèn nhát, khiếp nhược, công khai làm nô lệ cho kẻ thù! Đừng sợ bắt bớ, mà nên sợ không dám nhìn vào mặt con cái, phải cúi đầu không trả lời được câu hỏi: “Tại sao cha ông lại hèn nhát để kẻ thù chiếm mất đất ta?” Hãy để “quê hương là chùm khế ngọt” mãi, đừng để quê hương biến thành trái chua của Bắc Phương!

– Đồng bào hải ngoại: Xin hãy đoàn kết cùng nắm tay nhau, phổ biến tin tức Bán Nước này đến cùng trời cuối đất, đồng thời lật mặt nạ Bán Nước, buôn dân của Dũng, Mạnh và lãnh tụ đảng Cộng Sản Việt Nam. Kêu gọi công lý nơi những người bạn ngoại quốc có tình cảm với dân Việt, xin họ tiếp tay chận đứng việc bán nước công khai này. Xin phối hợp với những người ở trong nước đang cất lên tiếng nói chống lại Đảng Bán Nước, bảo vệ họ cho khỏi bị trù dập. Lập những chương trình phát thanh, truyền hình, báo chí liên tục chống lãnh tụ đảng Cộng Sản bán nước. Kêu gọi sự thức tỉnh lương tâm của các đảng viên Cộng Sản, chống lại Dũng, Mạnh, đang vì quyền lợi riêng tư mà tàn hại quê hương.

Tha thiết mong tiếng kêu đau thương, uất hận này được sự đón nhận và tiếp tay của toàn thể dân Việt, không phân biệt Nam, Bắc, tôn giáo, giai cấp, dân thường, cán bộ hay đảng viên, tư thương hay công nhân viên chức, để cho đất nước được vẹn toàn, để cho lịch sử không ghi lại một khúc quanh nhục nhã, để cho thế hệ sau không đau khổ sống trong sự nô lệ Tầu Cộng.
 

Hãy vùng lên, VIỆT NAM ƠI!

Đả đảo Dũng, Mạnh, bán nước cầu vinh! Đả đảo Dũng, Mạnh hèn nhát, khiếp nhược, dâng đất nước cho kẻ thù. Đả đảo Dũng, Mạnh tiêu diệt nguồn sống của nông dân và ngư dân! Đả đảo Dũng, Mạnh tàn hại sinh hoạt và đời sống của trăm thế hệ tương lai! Đả đảo Dũng, Mạnh PHẢN BỘI TỔ QUỐC!

19/04/2009 Posted by | Diễn đàn | | Leave a comment